Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa diễn ra vào ngày 6/1/1946. Đây là sự kiện lịch sử trọng đại, lần đầu tiên người dân Việt Nam trực tiếp cầm lá phiếu bầu ra những đại biểu đại diện cho mình, đánh dấu bước ngoặt dân chủ trong lịch sử dân tộc.
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên: Mốc son nhảy vọt về thể chế dân chủ
Trên báo Cứu quốc (số ra ngày 31/12/1945), Bác viết: “Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân đều có quyền đi bầu cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, giống nòi, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó.”

Tiếp đó, ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu,” nhấn mạnh: “Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình... Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do.”
Báo Quốc hội (tờ nhật báo chỉ ra trong kỳ Tổng tuyển cử), số đặc biệt ngày 6/1/1946 trân trọng in ở trang đầu ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và bút tích “Lời kêu gọi” của Người: “Khuyên đồng bào nam, nữ 18 tuổi trở lên hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu, để bầu những người đại biểu xứng đáng vào Quốc hội đầu tiên của nước ta.”
Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ Quốc, bằng cả ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do vừa giành được, và bằng cả niềm vui sướng cao độ háo hức chuẩn bị chờ đợi bấy lâu nay, toàn thể nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn cho ngày lịch sử vĩ đại - ngày 6/1/1946: Toàn dân đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội!
7h sáng ngày 6/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với hàng vạn cử tri thủ đô đi làm nghĩa vụ công dân. Bác đã đi bầu ở phòng bỏ phiếu đặt tại số nhà 10 phố Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ, Hà Nội).

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ công dân của mình, Bác đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, làng Hồ Khẩu và Ô Đông Mác.
Bác đặc biệt cảm động khi chứng kiến những cụ già 70, 80 tuổi vẫn được con cháu cõng đi bỏ phiếu hoặc nhiều người mù vẫn nhờ người nhà dẫn đến hòm phiếu để tự tay mình làm nhiệm vụ công dân.
Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành sôi nổi trên khắp cả nước. Người dân nô nức tham gia bầu cử với tỷ lên lên tới 89%, riêng Hà Nội đạt 91,95% cử tri đi bỏ phiếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).
Kết quả, 333 đại biểu ưu tú được bầu vào Quốc hội khóa I, đại diện cho các tầng lớp, giai cấp, dân tộc và tôn giáo trên cả nước.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho Nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại.
Cuộc bầu cử là căn cứ để khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có tính chất hợp pháp, dân chủ - Nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến, kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định chủ trương, đường lối của Đảng ta đúng đắn, sáng tạo, sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thể hiện khát vọng được độc lập, tự do của Nhân dân Việt Nam.
Học giả Nguyễn Văn Tố – Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của Việt Nam
Ông sinh ngày 5/6/1889, quê ở Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ Nguyễn Văn Tố làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội của Chính phủ lâm thời trong bối cảnh cấp thiết chống đói, chống dốt cho Nhân dân.

Năm 17 tuổi (1906), Nguyễn Văn Tố được chính thức vào làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) của Pháp tại Hà Nội và từng bước thăng tiến, giữ chức Chủ sự dưới quyền giám đốc EFEO cho đến ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công.
Đặc biệt, ông đã đóng góp công lao trong việc ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946, tạm thời hòa hoãn thực dân Pháp, giúp Đảng và Chính phủ có thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến lâu dài… Ở Nguyễn Văn Tố bộc lộ rõ phẩm chất của một nhà lãnh đạo cần mẫn, mẫu mực.
Cụ Nguyễn Văn Tố là một điển hình về tự học, là tấm gương mở đường cho đội ngũ nhân sĩ, trí thức đem tài năng, trí tuệ, sức lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, ông Nguyễn Văn Tố được bầu là Trưởng ban Thường trực của Quốc hội, tương đương chức danh Chủ tịch Quốc hội hiện nay.
Quá trình hoạt động cách mạng của cụ Nguyễn Văn Tố
Từ tháng 3/1907, Chủ tịch Nguyễn Văn Tố tham gia giảng sách tại Hội Trí Tri bằng tiếng Pháp, tiếng Việt về các đề tài lịch sử, địa lý, văn học, y khoa, khoa học thủy nông.
Năm mới lên 4 – 5 tuổi, tự học chữ nho tại nhà, Nguyễn Văn Tố đã đạt ở trình độ Tam tự kinh – bậc khởi đầu của Nho học; rồi sau đó, lần lượt đạt qua các bậc “Nhất trường”, “Nhị trường” và “Tam trường”.
Vào những năm 1910, Nguyễn Văn Tố đã trở thành một học giả nổi tiếng, có nhiều sáng tạo kết hợp văn hóa phương Đông và phương Tây. Tham gia giảng dạy tại Hội Trí Tri và được cử làm Trưởng ban biên tập Tập san Trí Tri.
Ngày 6/1/1946, trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), ông Nguyễn Văn Tố trúng cử đại biểu Quốc hội, là đại biểu của tỉnh Nam Định.
Ghi nhận và tri ân sâu sắc công lao, cống hiến to lớn của ông Nguyễn Văn Tố đối với đất nước, Đảng và Nhà nước đã tổ chức trọng thể truy tặng cụ Nguyễn Văn Tố Huân chương Sao Vàng – Huân chương cao quý nhất và cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

Chủ tịch Quốc hội đầu tiên Nguyễn Văn Tố là một học giả nổi tiếng
Sinh ra trong gia đình nhà Nho ở Hà Nội, thuở nhỏ Nguyễn Văn Tố học chữ Hán, sau chuyển sang chữ Pháp, tốt nghiệp trường Thông ngôn, về làm việc tại trường Viễn đông bác cổ, dạy tiếng Pháp, sáng lập và làm Hội trưởng Hội Trí tri, rồi Hội truyền bá quốc ngữ, viết cho tạp chí Đồng thanh, tập san Hội Trí tri, tập san trường Viễn đông bác cổ, viết bằng tiếng Pháp cho các báo Avenir du Tonkin (Tương lai của xứ Bắc Kỳ), Courrie deHai phong (Thư tín Hải Phòng), từ năm 1941, làm trợ bút cho tạp chí Tri tân.
Ông đọc nhiều, hiểu rộng, kiến văn phong phú và vốn văn hóa uyên thâm, am hiểu nhiều lĩnh vực như văn học, lịch sử, triết học, kiến trúc, xã hội học, nghệ thuật học, ngôn ngữ học. Những công trình khảo cứu, hiệu đính, phê bình có giá trị được công bố trên báo chí bằng tiếng Pháp thuộc nhiều lĩnh vực.
Ông còn có hàng loạt bài phê bình sách nghiên cứu văn học đáng chú ý, những bài phê bình mà ở thời điểm đó, nếu không có sự am hiểu đến tường tận, thì khó có sức thuyết phục, như phê bình các công trình Việt Nam cổ văn học sử (Nguyễn Đổng Chi), Thơ văn bình chú (Ngô Tất Tố), Nguyễn Công Trứ (Nguyễn Bách Khoa), Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm)...
Học giả Nguyễn Văn Tố còn phê bình nhiều sách về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, y học, luật học, tôn giáo, hoặc phê bình các luận án tiến sĩ của các nhà Tây học như Trần Văn Chương, Nguyễn Mạnh Tường...Quả thật, ông xứng đáng là người đứng trong “tứ trụ” về văn hóa học thuật nước ta thời kỳ đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
Điều quan trọng hơn, bằng sức vóc của trí tuệ trong hơn ba mươi năm cầm bút, Nguyễn Văn Tố đã có ảnh hưởng khá lớn trên nhiều lĩnh vực học thuật. Ngay cả “những người Pháp làm việc ở trường Viễn đông bác cổ, phần nhiều là những nhà bác học, tiến sĩ, thạc sĩ mà vẫn thường phải hỏi ông về những chuyện sách vở” (Thiếu Sơn, Những văn nhân chính khách một thời, Nxb Công an nhân dân 2006, tr.64).
Đối với trí thức trong nước đương thời, ông là tấm gương về lối sống giản dị, đi bộ, mặc đồ ta, búi tóc, về tấm lòng yêu nước thương dân và là một kho tàng tri thức Đông Tây, kim cổ cho thế hệ thanh niên noi theo. “Các bài viết của Nguyễn Văn Tố là những viên gạch đầu tiên góp vào khoa khảo chứng văn học của thời hiện đại” (Nguyễn Quảng Tuân, Tự điển văn học, Nxb Thế giới 2004, tr.1222).
Người ta ngưỡng mộ ông không chỉ ở kiến thức uyên bác, bản lĩnh học thuật, tấm lòng thiết tha và trân trọng đối với nền văn hóa dân tộc, mà còn ở trí nhớ như “ tự điển sống” của ông - một phẩm chất tuyệt vời của người làm khảo cứu. Cao hơn, ông còn để lại chân dung và nhân cách một trí thức sống có mục tiêu, có chủ kiến và biết bảo vệ nó đến cùng.