Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với sự phát triển đất nước
Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Hiền, Trường Đại học Lao động – Xã hội thì, với hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh hoa của lực lượng lao động xã hội, bao gồm: những cá nhân có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, năng lực tư duy khoa học, khả năng sáng tạo, thích ứng nhanh với sự biến đổi của công nghệ và có phẩm chất nghề nghiệp, đạo đức lao động tốt. Trong nền kinh tế tri thức và bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, nguồn nhân lực chất lượng cao trong khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo có vai trò quan trọng sau:

Thứ nhất, là chủ thể sáng tạo tri thức, là động lực nội sinh của phát triển
Tri thức không tự sinh ra trong các điều kiện vật chất khách quan mà được hình thành thông qua hoạt động thực tiễn sáng tạo của con người, thông qua quá trình “vật hóa” năng lực tư duy vào lao động. Trong bối cảnh kinh tế tri thức phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo chính là biểu hiện cụ thể của con người với tư cách là chủ thể sáng tạo tri thức, là nhân tố tạo ra sức mạnh nội sinh cho sự phát triển của quốc gia. Chính đội ngũ nhân lực khoa học – công nghệ, với năng lực tư duy hệ thống, khả năng nghiên cứu, phân tích và sáng tạo, là những người chuyển hóa tri thức khoa học thành công nghệ, chuyển hóa công nghệ thành năng lực sản xuất thực tiễn. Họ tạo nên chuỗi giá trị mới, hình thành năng lực sáng tạo quốc gia – yếu tố đặc trưng của nền kinh tế tri thức.
Thứ hai, là nhân tố quyết định khả năng hội nhập và năng lực tự chủ tri thức của quốc gia
Trong bối cảnh tri thức và công nghệ vươn lên giữ vai trò là lực lượng sản xuất chủ đạo, những mô hình tăng trưởng dựa trên khai thác vốn và lợi thế lao động giá rẻ ngày càng bộc lộ giới hạn lịch sử. Mô hình phát triển hiện đại được kiến tạo trên nền tảng đổi mới sáng tạo trở thành sức sống nội sinh, năng lực cạnh tranh và độ bền vững của toàn bộ hệ thống kinh tế – xã hội. Trong mô hình này, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định cấu trúc, phương thức và tốc độ phát triển. Chính họ là lực lượng tạo ra tri thức mới, nắm bắt và làm chủ công nghệ lõi, hình thành nên năng lực tự chủ về công nghệ và tri thức của quốc gia. Nguồn nhân lực này cũng là cầu nối giữa năng lực nội sinh và tiến trình hội nhập quốc tế.
Một quốc gia chỉ có thể hội nhập hiệu quả khi đủ khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở các khâu có hàm lượng tri thức và công nghệ cao; điều đó đòi hỏi đội ngũ nhân lực không chỉ biết tiếp thu mà còn có khả năng sáng tạo, cải tiến và thích ứng linh hoạt với những biến động công nghệ toàn cầu. Năng lực tự chủ tri thức vì thế không chỉ là chỉ báo của trình độ khoa học – công nghệ mà còn là biểu hiện của bản lĩnh tự cường dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và cạnh tranh tri thức.
Thứ ba, góp phần cải thiện chất lượng sống và giải quyết tốt các vấn đề xã hội và môi trường

Trong nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là lực lượng trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn là chủ thể kiến tạo những giá trị mới gắn liền với tiến bộ xã hội và phát triển bền vững. Thông qua khả năng nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đội ngũ này góp phần giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu như khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường hay bất bình đẳng xã hội.
Việc phát triển các công nghệ sạch, y học chính xác, nông nghiệp thông minh và các mô hình kinh tế tuần hoàn là minh chứng sinh động cho vai trò của tri thức khoa học và đổi mới sáng tạo trong việc cải thiện chất lượng sống của con người. Nguồn nhân lực này còn bảo đảm cho quá trình phát triển diễn ra một cách hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Họ là lực lượng giúp chuyển hóa tri thức khoa học thành chính sách, sản phẩm và dịch vụ có giá trị xã hội, góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm nghèo, mở rộng cơ hội giáo dục, chăm sóc sức khỏe cũng như cải thiện phúc lợi cộng đồng. Sự hiện diện của đội ngũ nhân lực này còn giúp tăng cường năng lực quản trị tri thức, hình thành nền văn hóa đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao năng lực tự chủ của quốc gia trong việc định hướng phát triển và thích ứng với các biến động toàn cầu.
Thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp công nghệ
Trong nền kinh tế tri thức, nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo giữ vai trò hạt nhân trong việc hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp công nghệ. Họ là lực lượng nắm giữ tri thức chuyên sâu, có khả năng tư duy phản biện, nghiên cứu ứng dụng và chuyển hóa tri thức khoa học thành sản phẩm, dịch vụ, hoặc giải pháp công nghệ có giá trị gia tăng cao. Sự phát triển của các trung tâm đổi mới sáng tạo, viện nghiên cứu ứng dụng, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao và các vườn ươm sáng tạo đều phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của nguồn nhân lực này. Họ là cầu nối giữa nghiên cứu và thị trường, giữa ý tưởng và sản phẩm, giữa tri thức và giá trị kinh tế – xã hội. Khi được hỗ trợ bởi môi trường thể chế thuận lợi, nguồn nhân lực tri thức sẽ góp phần hình thành “hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia”. Đây là nơi doanh nghiệp, trường đại học và cơ quan quản lý Nhà nước tương tác trong chuỗi giá trị sáng tạo mở, tạo điều kiện cho khởi nghiệp công nghệ phát triển mạnh mẽ.
Thứ năm, tăng cường năng lực cạnh tranh
Trong nền kinh tế tri thức, nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là yếu tố trung tâm quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia. Họ là lực lượng trực tiếp tạo ra tri thức mới, làm chủ công nghệ lõi, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và tái cấu trúc mô hình sản xuất – kinh doanh theo hướng giá trị gia tăng cao. Sự hiện diện của đội ngũ nhân lực này giúp gia tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu ở những công đoạn có hàm lượng công nghệ và tri thức cao.

Thứ sáu, thúc đẩy hội nhập quốc tế và hợp tác khoa học – công nghệ.
Với kiến thức chuyên môn vững vàng và khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến, nguồn nhân lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chất lượng cao góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tham gia vào các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, đội ngũ này là cầu nối trong quá trình chuyển giao công nghệ, giúp các doanh nghiệp trong nước nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng các thành tựu. Ngoài ra, đội ngũ nhân lực này tham gia tích cực vào những dự án hợp tác nghiên cứu giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế, góp phần nâng cao trình độ khoa học – công nghệ của Việt Nam, từ đó, thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước.
Bài toán gia tăng hiệu suất lao động
Sự thay đổi đến chóng mặt của công nghệ; sự dịch chuyển thị trường từ các xu hướng tiêu dùng; xu hướng toàn cầu hóa và nguồn nhân lực dần bị thay thế bởi thế hệ lao động trẻ đang là những tác nhân khiến doanh nghiệp buộc phải thay đổi.
Trong bối cảnh đó, các nhà quản trị cũng nhận ra mô hình quản trị kiểu cũ (chủ yếu dựa vào lương, phúc lợi và kiểm soát hành chính) có nhiều bất cập và không đủ để gia tăng hiệu suất, gắn kết người lao động hay giữ chân nhân tài.
Một nghiên cứu của Deloitte thực hiện năm 2024 về Xu hướng nguồn nhân lực cho thấy khi môi trường làm việc và văn hóa doanh nghiệp được quản lý tốt không chỉ giúp giữ chân người lao động mà còn giúp cho sự hài lòng với công việc của nhân viên cải thiện đáng kể, từ đó giúp hiệu suất làm việc cao hơn. Chính vì vậy, ngày càng có nhiều doanh nghiệp chuyển đổi sang phong cách quản trị hiện đại lấy con người làm trung tâm kết hợp với xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Phong cách quản trị hiện đại ra đời cùng làn sóng chuyển đổi số do đó đề cao việc ra quyết định dựa trên dữ liệu đi kèm văn hóa trao quyền. Trong khi đó, văn hóa doanh nghiệp giúp định hướng hành vi của người lao động, giảm xung đột, tăng khả năng phối hợp và tạo nên “ngôn ngữ chung” trong vận hành.
Những vấn đề pháp lý về chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp tại Việt Nam
PGS.TS. Nguyễn Thị Thuỷ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh phân tích: Bản chất của chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực là việc nâng cao việc sử dụng công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa có vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp, chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực thúc đẩy và nâng cao sự giao tiếp, hợp tác và dấn thân không chỉ giữa các nhân viên với doanh nghiệp mà còn giữa các nhân viên với nhau và chuyển đổi số còn góp phần thay đổi căn bản hoạt động quản trị hiệu quả công việc của nhân viên với sự hỗ trợ của công nghệ.

Những thách thức đối với hoạt động chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực hiện tại, cụ thể theo OECD (2021), 96% doanh nghiệp ở Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ với nguồn lực tài chính hạn chế thì khó có thể áp dụng đồng bộ các thành tựu công nghệ vào quá trình quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trị nguồn nhân lực nói riêng.
Ngoài ra, nguồn nhân lực tại Việt Nam am hiểu về chuyển đổi số còn hạn chế, đặc biệt có sự thiếu hụt đội ngũ chuyên gia về thực hiện các hoạt động chuyển đổi số. Hơn nữa, việc số hóa thông tin và ứng dụng công nghệ trong quản lý nguồn nhân lực với bối cảnh vấn đề an ninh mạng còn chưa sẵn sàng có thể gây ra những tổn thất nghiêm trọng không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho chính nhân viên của công ty.
Tiến sỹ đề xuất, nên có quy định về việc bắt buộc thanh toán tiền lương của doanh nghiệp thông qua tài khoản ngân hàng, cần xây dựng các hướng dẫn về bộ tiêu chí mức độ đào tạo người lao động của từng loại doanh nghiệp và pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan quá trình tuyển dụng cũng như quản lý nguồn nhân lực tạo hiệu quả về mặt thời gian và chi phí cũng như giúp các cơ quan quản lý Nhà nước dễ dàng thanh tra.
Tiến sỹ Hoàng Văn Long đề cập quản trị nguồn nhân lực gồm 3 chức năng chính là thu hút, đào tạo và phát triển, duy trì nguồn nhân lực. Chuyển đổi số cần ứng dụng kỹ thuật công nghệ kỹ thuật số trong quản trị nguồn nhân lực để đạt được hiệu quả trong doanh nghiệp.
Như vậy, đổi mới tư duy trong quản lý kinh tế, điều hành tổ chức, quản trị nhân lực…cùng với phát triển nguồn nhân lực số là nền tảng quan trọng, góp phần đảm bảo tiến trình chuyển đổi số nhanh, hiệu quả và bền vững.