Chiến lược Dữ liệu quốc gia thể hiện khát vọng lớn, tầm nhìn xa của Việt Nam. Chiến lược Dữ liệu quốc gia cần tổng quát là bản thiết kế kiến trúc điện tử, thể hiện tổng thể nguồn lực và động lực của chuyển đổi số Việt Nam. Nguồn nhân lực thực hiện Chiến lược Dữ liệu quốc gia đến năm 2030 đang nhận được sự quan tâm đặc biệt.

PV Tạp chí Nhân lực Nhân tài Việt phỏng vấn Thượng tá, Tiến sỹ Đào Trung Hiếu về những nội dung cốt lõi của Chiến lược Dữ liệu quốc gia.
PV: Để thực hiện tốt Chiến lược Dữ liệu quốc gia đến năm 2030, theo Tiến sỹ cần phải bổ sung, đào tạo nguồn nhân lực, nhân sự như thế nào?
Tiến sỹ Đào Trung Hiếu: Về yêu cầu bổ sung, đào tạo nguồn nhân lực để thực hiện hiệu quả Chiến lược Dữ liệu quốc gia. Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất của Chiến lược Dữ liệu quốc gia không nằm ở công nghệ hay hạ tầng, mà nằm ở con người. Dữ liệu không chỉ là vấn đề kỹ thuật thu thập và lưu trữ, mà là vấn đề tư duy quản trị. Do đó, nguồn nhân lực cần được đào tạo theo hướng liên ngành và phân tầng rõ rệt.
Ngày 2/2/2024, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang đã ký quyết định số 142/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030. Chiến lược đưa ra tầm nhìn: Dữ liệu của Việt Nam mở ra không gian hoạt động và phát triển mới cho Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số; phản ánh đầy đủ mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội trên môi trường số và là nhân tố thúc đẩy tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, đảm bảo cho tiến trình chuyển đổi số thành công, đưa Việt Nam trở thành quốc gia số an toàn. Dữ liệu góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, đưa Việt Nam vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đạt mức thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và đạt mức thu nhập cao vào năm 2045.
Một mặt, chúng ta cần đội ngũ kỹ sư dữ liệu, chuyên gia hạ tầng số, chuyên gia an ninh mạng có năng lực làm chủ công nghệ lõi, vận hành hệ thống dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng phân tích.
Mặt khác, và điều này rất quan trọng, cần đào tạo một lớp “cán bộ quản trị dữ liệu” trong các bộ, ngành, địa phương – những người không nhất thiết phải là kỹ sư, nhưng phải hiểu dữ liệu là gì, dữ liệu phục vụ quyết định chính sách ra sao, và dữ liệu cần được chuẩn hóa, liên thông, chia sẻ như thế nào để tạo ra giá trị công.
Nói cách khác, đào tạo nhân lực dữ liệu không thể chỉ dồn cho khối công nghệ thông tin, mà phải lan sang khối quản lý, pháp lý, kinh tế, xã hội học, để hình thành một hệ sinh thái nhân lực dữ liệu có chung ngôn ngữ và chung tư duy số.
PV: Tiến sỹ có đánh giá, nhận định như thế nào về mảng dữ liệu liên quan đến tội phạm?

Tiến sỹ Đào Trung Hiếu: Đối với mảng dữ liệu liên quan đến tội phạm, tôi cho rằng, đây là một lĩnh vực vừa đặc biệt quan trọng, vừa đặc biệt nhạy cảm. Dữ liệu tội phạm không chỉ phản ánh các hành vi vi phạm pháp luật, mà còn cho thấy những biến động xã hội, những xu hướng lệch chuẩn trong hành vi con người và các nguy cơ an ninh mới đang hình thành trong không gian số.
Nếu mảng dữ liệu liên quan đến tội phạm được tổ chức và khai thác đúng cách, dữ liệu tội phạm sẽ giúp hoạt động phòng, chống tội phạm chuyển từ thế bị động sang chủ động, từ xử lý vụ việc đơn lẻ sang dự báo xu hướng và phòng ngừa sớm.
Tuy nhiên, dữ liệu tội phạm không thể được tiếp cận thuần túy như dữ liệu kỹ thuật hay dữ liệu kinh tế. Việc khai thác lĩnh vực này đòi hỏi đội ngũ nhân lực vừa am hiểu sâu sắc nghiệp vụ điều tra, tội phạm học và pháp luật, vừa có năng lực phân tích dữ liệu, nhận diện mô hình và giải mã các quy luật ẩn sau con số. Thiếu một trong hai trụ cột này, dữ liệu khó phát huy được giá trị thực tiễn, khi thì bị “chết” trong kho lưu trữ, khi lại bị diễn giải sai lệch, từ đó dẫn tới những nhận định hoặc quyết định thiếu chính xác.

Bên cạnh đó, quản trị dữ liệu tội phạm còn đặt ra những yêu cầu rất cao về đạo đức nghề nghiệp và khuôn khổ pháp lý. Việc thu thập, kết nối và phân tích dữ liệu phải luôn gắn với nguyên tắc bảo vệ quyền con người, quyền riêng tư và nguyên tắc suy đoán vô tội. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, dữ liệu vốn là công cụ bảo vệ xã hội có thể vô tình trở thành nguồn rủi ro xã hội mới.
PV: Theo Tiến sỹ, nguồn nhân lực của Trung tâm Dữ liệu quốc gia ổn định, đóng góp gì cho chuyển đổi số quốc gia?
Tiến sỹ Đào Trung Hiếu: Theo tôi, Trung tâm Dữ liệu quốc gia không chỉ là một đơn vị kỹ thuật, mà phải được nhìn nhận như “bộ não dữ liệu” của quá trình chuyển đổi số quốc gia.
Một đội ngũ nhân sự ổn định, có chiều sâu chuyên môn và được bảo đảm điều kiện làm việc lâu dài sẽ đóng vai trò then chốt trong việc duy trì tính liên tục, tính an toàn và tính tin cậy của dữ liệu quốc gia. Chuyển đổi số là một quá trình dài, không thể vận hành bằng tư duy nhiệm kỳ hay nhân sự thay đổi liên tục.
Việt Nam đặt mục tiêu phát triển hạ tầng dữ liệu đến năm 2030, tất cả 100% các Trung tâm Dữ liệu quốc gia; Trung tâm Dữ liệu vùng, khu vực; Trung tâm cấp quốc gia về lưu trữ dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao trên cả nước được bảo đảm kết nối thành công. 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; tối thiểu 80% dữ liệu về kết quả thực hiện các thủ tục hành chính được tái sử dụng, chia sẻ theo quy định (ngoại trừ các cơ sở dữ liệu nghiệp vụ đặc thù) đảm bảo người dân và doanh nghiệp chỉ phải cung cấp thông tin một lần khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thực hiện các thủ tục hành chính. Tích hợp kết quả xử lý công việc vào phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc của từng đơn vị; tỷ lệ áp dụng dữ liệu trong phục vụ quản lý điều hành công việc trên môi trường số, trong kiểm tra, đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức đạt tối thiểu 70%. Kết hợp khai thác sử dụng dữ liệu và ứng dụng AI đối với tất cả thủ tục hành chính có đủ điều kiện cung cấp trực tuyến, nâng cao hiệu quả của bộ máy hành chính Nhà nước và cung cấp dịch vụ công phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Khi đội ngũ của Trung tâm Dữ liệu quốc gia đủ mạnh, đủ ổn định và đủ thẩm quyền chuyên môn, họ không chỉ vận hành hạ tầng, mà còn tham gia tư vấn chính sách, chuẩn hóa dữ liệu, kết nối các cơ sở dữ liệu ngành, từ đó tạo nền tảng cho Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số phát triển bền vững. Nói cách khác, nếu dữ liệu là “nhiên liệu” của chuyển đổi số, thì con người chính là người quyết định nhiên liệu đó có được sử dụng hiệu quả hay không?
Tóm lại, Chiến lược Dữ liệu quốc gia chỉ thực sự thành công khi chúng ta coi đầu tư cho con người là trụ cột trung tâm, chứ không chỉ là hạng mục phụ trợ cho công nghệ.
PV: Trân trọng cảm ơn Tiến sỹ!