Vấn đề pháp lý về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị nguồn nhân lực

Tiến sỹ Nguyễn Thái Cường, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh nhận định: Khung pháp lý nước ta hiện nay về quản lý trí tuệ nhân tạo (AI) cần đồng bộ, thống nhất, rõ ràng hơn, mặc dù AI được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực và đạt được những thành tựu đáng kể, trong đó bao gồm lĩnh vực quản trị nhân sự.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Thái Cường thì, vấn đề pháp lý về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị nguồn nhân lực đang rất cấp thiết trong chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) hiện nay. Tiến sỹ Cường nhấn mạnh vấn đề phức tạp nhất hiện nay là con người, nên tập trung vào nguồn lực cốt lõi để nâng cao hiệu quả trong doanh nghiệp. AI được sử dụng nhiều trong một số doanh nghiệp và kể cả trường học trong việc thu thập thông tin làm minh chứng để chế tài nhân viên khi có vấn đề phát sinh, gây bất lợi cho nhân viên trong tổ chức và có thể ảnh hưởng về mặt cảm xúc.

2025-03-25-07-30-084-1771975911.jpg
Ảnh minh họa, nguồn internet.

Tiến sỹ Thái Cường phân tích: Khung pháp lý nước ta hiện nay đang thiếu vắng các vấn đề về quản lý trí tuệ nhân tạo (AI) mặc dù AI được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực và đạt được những thành tựu đáng kể, trong đó bao gồm lĩnh vực quản trị nhân sự. Đặc biệt, vấn đề về bảo vệ dữ liệu cá nhân và rủi ro đối với quyền và nghĩa vụ trong việc sử dụng dữ liệu cá nhân khi áp dụng trí tuệ nhân tạo được đặc biệt quan tâm.

Quản lý bằng công nghệ cao nhưng không được xâm phạm quyền riêng tư của người lao động; các nhà quản lý cần nhận thức và hiểu rõ khung pháp lý, đặc biệt quyền riêng tư để tránh các hành vi xâm phạm dẫn đến tranh chấp; và xây dựng và sử dụng pháp lý hiệu quả không những không kìm hãm sự phát triển mà còn tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Bài tham luận thứ hai cũng nhận được nhiều ý kiến góp ý và chia sẻ:

Thạc sỹ Nguyễn Quốc Ninh, Phó Trưởng Bộ môn Quản trị Hành chính Nhân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh nêu lên tình hình rò rỉ thông tin cá nhân hiện nay. Ông đề cập các góc độ quản trị và kỹ thuật, AI có thể ứng dụng trong 3 cấp độ, cụ thể: 1) cấp độ 1 là AI có thể tự động thu thập và sắp xếp dữ liệu (Ví dụ: về chấm công, KPI, sai phạm trong quá trình làm việc) hoàn toàn bằng máy móc, mà không cần người điều khiển và kiểm tra; 2) cấp độ 2: AI giúp nhà quản lý có thêm cơ sở về thông tin đã được phân tích để sử dụng trong quá trình ra quyết định; 3) cấp độ 3: AI ra quyết định thay cho con người (như máy tự vận hành). Các tổ chức và doanh nghiệp hiện tại đang áp dụng AI trong các quyết định sơ cấp, còn các quyết định lớn thì rất ít điều kiện để áp dụng. Bên cạnh đó, khung pháp lý còn nhiều lỗ hổng như việc thu thập dữ liệu, xử lý, và ra quyết định của AI gây hậu quả thì trách nhiệm thuộc về ai, người tạo ra AI hay người sử dụng AI hay người sở hữu hệ thống AI đó? Đây là vấn đề cần bàn thảo chi tiết để có hướng giải quyết.

Ông Lê Nguyễn Trường Giang, Viện trưởng Viện chiến lược Chuyển đổi số trao đổi về thuật ngữ Digital transformation (Chuyển đổi số) là một thuật ngữ mới, được định hình và sử dụng từ năm 2016. Trong phạm vi AI, ông Giang có gợi ý trước khi bàn về vấn đề pháp lý, cần định nghĩa rõ thế nào là AI, tương lai của sở hữu trí tuệ trong bối cảnh chuyển đổi số có thể dần mất đi và quyền sở hữu riêng tư thuộc về ai. Ông cũng đề xuất quyền sử dụng dữ liệu cần được làm rõ trước khi đề cập khung pháp lý.

picture1-1771974830.png
Ảnh minh họa.

Ông Lê Nguyễn Trường Giang chia sẻ 6 trụ cột cho chuyển đổi số thành công và gợi ý hướng nghiên cứu về các vấn đề pháp lý liên quan đến sáu trụ cột này bao gồm 1) dữ liệu hóa cá nhân; 2) phát triển năng lực số; 3) tối ưu hóa quy trình – tự động hóa tác nghiệp – tổng thể hóa hoạt động; 4) cộng hưởng hiệu quả; 5) ra quyết định dựa trên dữ liệu và 6) chiến lược đột phá giá trị.

Luật sư Trần Anh Đức chia sẻ: Việc ứng dụng AI đang diễn ra trên toàn cầu. Hiện nay, công việc được khách hàng yêu cầu thực hiện nhiều hơn, phức tạp hơn, trong thời gian ngắn hơn, và nguồn lực ít hơn, dẫn đến việc nâng cao hiệu quả công việc bằng chuyển đổi số và đặc biệt là sử dụng AI. Luật sư minh họa trong công ty của mình, công việc của một luật sư trong những giao dịch lớn có thể phải thẩm định pháp lý hàng trăm hợp đồng và trước đây cần một đội ngũ luật sư và người hỗ trợ rất lớn để thực hiện công việc trong một thời gian dài.

Tuy nhiên, cùng với sự hỗ trợ của chuyển đổi số và AI, thời gian cũng như nguồn lực sử dụng để thực hiện công việc có thể giảm xuống nhiều lần. Để có thể áp dụng AI hiệu quả, bước đầu tiên cần chuẩn hóa từng loại hợp đồng, sau đó phần mềm sẽ hỗ trợ công việc một cách tối ưu. Tuy nhiên, luật sư cũng quan ngại về hậu quả ảnh hưởng đến việc giảm sút cơ hội nghề nghiệp của người lao động sơ cấp và phổ thông khi ứng dụng AI.

Về “Những vấn đề pháp lý về chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp tại Việt Nam”, PGS.TS. Nguyễn Thị Thuỷ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh nêu bản chất của chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực. 

untitled-1771976061.png
Ảnh minh họa, nguồn internet.

Tiến sỹ Thủy nhấn mạnh, việc nâng cao việc sử dụng công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa có vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp, chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực thúc đẩy và nâng cao sự giao tiếp, hợp tác và dấn thân không chỉ giữa các nhân viên với doanh nghiệp mà còn giữa các nhân viên với nhau và chuyển đổi số còn góp phần thay đổi căn bản hoạt động quản trị hiệu quả công việc của nhân viên với sự hỗ trợ của công nghệ.

Theo Tiến sỹ Thủy, thách thức đối với hoạt động chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực hiện tại, cụ thể theo OECD (2021), 96% doanh nghiệp ở Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ với nguồn lực tài chính hạn chế thì khó có thể áp dụng đồng bộ các thành tựu công nghệ vào quá trình quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trị nguồn nhân lực nói riêng. Ngoài ra, nguồn nhân lực tại Việt Nam am hiểu về chuyển đổi số còn hạn chế, đặc biệt có sự thiếu hụt đội ngũ chuyên gia về thực hiện các hoạt động chuyển đổi số.

Hơn nữa, việc số hóa thông tin và ứng dụng công nghệ trong quản lý nguồn nhân lực với bối cảnh vấn đề an ninh mạng còn chưa sẵn sàng có thể gây ra những tổn thất nghiêm trọng không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho chính nhân viên của công ty.

Tiến sỹ Thủy đề xuất nên có quy định về việc bắt buộc thanh toán tiền lương của doanh nghiệp thông qua tài khoản ngân hàng, cần xây dựng các hướng dẫn về bộ tiêu chí mức độ đào tạo người lao động của từng loại doanh nghiệp và pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan quá trình tuyển dụng cũng như quản lý nguồn nhân lực tạo hiệu quả về mặt thời gian và chi phí cũng như giúp các cơ quan quản lý nhà nước dễ dàng thanh tra.

Anh Thư (t/h)