Vai trò, quyền hạn của 4 vị trí lãnh đạo cao nhất trong hệ thống chính trị

Tứ trụ là cách gọi phổ biến để chỉ 4 chức danh lãnh đạo cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, gồm: Tổng Bí thư: Lãnh đạo chính trị, định hướng toàn hệ thống; Chủ tịch nước: Nguyên thủ quốc gia, đối nội, đối ngoại - quốc phòng; Thủ tướng Chính phủ: Đứng đầu hành pháp, điều hành chính phủ; Chủ tịch Quốc hội: Lãnh đạo lập pháp, giám sát tối cao.

Bốn chức danh lãnh đạo trên thể hiện một cấu trúc quyền lực (4 vị trí) phối hợp, vận hành nhất quán dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó mỗi vị trí phụ trách một lĩnh vực riêng theo trật tự: Đảng - Nhà nước - Hành pháp - Lập pháp.

Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tháng 1/2026, cơ cấu lãnh đạo cấp cao nhiệm kỳ mới đã có những điều chỉnh nhất định.

Bốn chức danh lãnh đạo trên thể hiện một cấu trúc quyền lực (4 vị trí) phối hợp, vận hành nhất quán dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó mỗi vị trí phụ trách một lĩnh vực riêng theo trật tự: Đảng - Nhà nước - Hành pháp - Lập pháp.

Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tháng 1/2026, cơ cấu lãnh đạo cấp cao nhiệm kỳ mới đã có những điều chỉnh nhất định.

618384147-1355449579958218-7273408948471070433-n-1776638888.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm - Thủ tướng Lê Minh Hưng - Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn - Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.

Danh sách 4 chức danh lãnh đạo cao nhất trong hệ thống chính trị nhiệm kỳ 2026 - 2031 gồm những ai?

Trong nhiệm kỳ 2026 – 2031, 4 vị trí lãnh đạo cao nhất) trong hệ thống chính trị Việt Nam gồm:

Thứ nhất: Tổng Bí thư Tô Lâm; thứ hai Chủ tịch nước Tô Lâm; thứ ba: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; thứ tư: Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.

Bốn chức danh lãnh đạo cao nhất trong hệ thống chính trị qua các thời kỳ từ năm 1945

Kể từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập năm 1945, cơ cấu lãnh đạo cấp cao theo mô hình Tứ trụ chưa được hình thành. Mô hình này được hình thành từng bước, gắn liền với tiến trình hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước, các lần sửa đổi Hiến pháp cũng như yêu cầu thực tiễn của từng giai đoạn lịch sử.

Giai đoạn 1945 - 1955: Trong giai đoạn này, quyền lực cách mạng chủ yếu tập trung vào chủ tịch Hồ Chí Minh, người đồng thời giữ cương vị Chủ tịch nước và đứng đầu Chính phủ. Chức danh Tổng Bí thư do Trường Chinh đảm nhiệm (đến năm 1956).

Mặc dù các thiết chế Nhà nước bước đầu được thiết lập, song việc phân công chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan chưa thực sự rõ ràng do điều kiện chiến tranh chống thực dân Pháp. Do đó, có thể khẳng định rằng trong giai đoạn này, mô hình 4 vị trí chưa hình thành.

Giai đoạn 1955 - 1976: Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, các chức danh tương ứng với mô hình 4 chức danh lãnh đạo cao nhất hệ thống chính trị được xác lập rõ nét hơn, bao gồm:

  • Tổng Bí thư: Đồng chí Lê Duẩn (từ năm 1960)
  • Chủ tịch nước: Cụ Tôn Đức Thắng (từ năm 1969)
  • Thủ tướng Chính phủ: Đồng chí Phạm Văn Đồng
  • Chủ tịch Quốc hội: Đồng chí Trường Chinh

Tuy nhiên, trong bối cảnh kháng chiến chống Mỹ, cơ chế vận hành vẫn mang tính tập trung cao; việc phân định rạch ròi chức năng giữa các vị trí chưa thực sự hoàn thiện.

Giai đoạn 1976 - 1992: Sau khi đất nước thống nhất, bộ máy Nhà nước được tổ chức lại theo hướng hoàn chỉnh hơn. Các chức danh lãnh đạo chủ chốt cơ bản đã được thiết lập, tuy nhiên, cơ quan hành pháp được tổ chức dưới hình thức Hội đồng Bộ trưởng, đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (chưa phải là Thủ tướng theo cách gọi hiện nay).

tbt-cac-thoi-ky-1776638983.webp
Tổng Bí thư qua các thời kỳ. Ảnh danviet.vn

Lãnh đạo tiêu biểu trong giai đoạn này gồm:

  • Tổng Bí thư: Đồng chí Lê Duẩn, sau đó là đồng chí Nguyễn Văn Linh
  • Chủ tịch nước: Đồng chí Trường Chinh, tiếp đến là đồng chí Lê Đức Anh
  • Đứng đầu hành pháp: Đồng chí Phạm Văn Đồng, sau đó là đồng chí Đỗ Mười
  • Chủ tịch Quốc hội: Đồng chí Trường Chinh cùng các lãnh đạo kế nhiệm

Giai đoạn 1992 - 2011: Hiến pháp năm 1992 đánh dấu bước chuyển quan trọng khi tái lập Chính phủ với người đứng đầu là Thủ tướng. Từ đây, mô hình Tứ trụ được xác lập rõ ràng và vận hành ổn định hơn trong thực tiễn.

Các chức danh lãnh đạo tiêu biểu:

  • Tổng Bí thư: Đồng chí Đỗ Mười, đồng chí Lê Khả Phiêu, đồng chí Nông Đức Mạnh
  • Chủ tịch nước: Đồng chí Lê Đức Anh, đồng chí Trần Đức Lương
  • Thủ tướng Chính phủ: Đồng chí Võ Văn Kiệt, đồng chí Phan Văn Khải
  • Chủ tịch Quốc hội: Đồng chí Nông Đức Mạnh, đồng chí Nguyễn Văn An

Trong giai đoạn này, chức năng giữa các cơ quan được phân định rõ hơn: Đảng giữ vai trò lãnh đạo toàn diện; Quốc hội thực hiện quyền lập pháp và giám sát; Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia; Chính phủ, đứng đầu là Thủ tướng, thực hiện quyền hành pháp.

Giai đoạn 2011 - nay: Mô hình 4 vị trí tiếp tục được hoàn thiện trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và duy trì sự ổn định trong tổ chức, vận hành.

Lãnh đạo tiêu biểu:

  • Tổng Bí thư: Đồng chí Nguyễn Phú Trọng (đến năm 2024), sau đó là đồng chí Tô Lâm
  • Chủ tịch nước: Đồng chí Trương Tấn Sang, đồng chí Trần Đại Quang, đồng chí Lương Cường, đồng chí Tô Lâm (kiêm nhiệm từ ngày 7/4/2026)
  • Thủ tướng Chính phủ: Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, đồng chí Phạm Minh Chính, đồng chí Lê Minh Hưng (từ ngày 7/4/2026)
  • Chủ tịch Quốc hội: Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng chí Trần Thanh Mẫn

Đáng chú ý, việc một cá nhân đồng thời đảm nhiệm hai chức danh chủ chốt (như Nguyễn Phú Trọng và Tô Lâm) phản ánh xu hướng nhất thể hóa trong tổ chức quyền lực Nhà nước. Mô hình này góp phần tăng cường tính tập trung và thống nhất trong lãnh đạo, qua đó nâng cao hiệu quả điều hành và năng lực phản ứng chính sách; đồng thời củng cố vị thế, tiếng nói đối ngoại của quốc gia trong bối cảnh hội nhập, tạo nền tảng cho mục tiêu phát triển và vươn mình trên trường quốc tế.

Bảng tổng hợp danh sách 4 vị trí lãnh đạo cao nhất trong hệ thống chính trị qua các thời kỳ (Timeline từ mới - cũ)

Mốc thời gian

Tổng Bí thư / Lãnh đạo Đảng

Chủ tịch nước

Thủ tướng / Đứng đầu hành pháp

Chủ tịch Quốc hội

7/4/2026 - nay

Tô Lâm (kiêm nhiệm)

Tô Lâm (kiêm nhiệm)

Lê Minh Hưng

Trần Thanh Mẫn

8/9/2025 - 7/4/2026

Tô Lâm

Lương Cường

Phạm Minh Chính

Trần Thanh Mẫn

2021 - 2025

Nguyễn Phú Trọng (đến 2024) → Tô Lâm (2024)

Tô Lâm (kiêm ngắn) → Lương Cường (2024)

Phạm Minh Chính (từ 2023)

 Trần Thanh Mẫn (2024)

2016 - 2021

Nguyễn Phú Trọng

Trần Đại Quang → Nguyễn Phú Trọng (kiêm 2018–2021)

 

Nguyễn Thị Kim Ngân

2011 - 2016

Nguyễn Phú Trọng

Trương Tấn Sang

Nguyễn Tấn Dũng

Nguyễn Sinh Hùng

2006 - 2011

Nông Đức Mạnh

Nguyễn Minh Triết

Nguyễn Tấn Dũng

Nguyễn Phú Trọng

2001 - 2006

Nông Đức Mạnh

Trần Đức Lương

Phan Văn Khải

Nguyễn Văn An

1997 - 2001

Lê Khả Phiêu

Trần Đức Lương

Phan Văn Khải

Nông Đức Mạnh

1992 - 1997

Đỗ Mười

Lê Đức Anh

Võ Văn Kiệt

Nông Đức Mạnh

1986 - 1992

Nguyễn Văn Linh → Đỗ Mười

Võ Chí Công → Đỗ Mười

Phạm Hùng → Đỗ Mười → Võ Văn Kiệt

Trường Chinh / Lê Quang Đạo

1976 - 1986

Lê Duẩn (đến 1986) → Trường Chinh (kiêm ngắn)

Tôn Đức Thắng → Trường Chinh (1981–1987)

Phạm Văn Đồng

Trường Chinh

1955 - 1976

Lê Duẩn (từ 1960)

Hồ Chí Minh → Tôn Đức Thắng (1969)

Phạm Văn Đồng

Trường Chinh

1945 - 1955

Trường Chinh (Tổng Bí thư đến 1956) Hồ Chí Minh (Chủ tịch Đảng từ 1951)

Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh (kiêm đến 1955)

-

Từ 1992, cấu trúc 4 vị trí lãnh đạo cao nhất trong hệ thống chính trị được xác lập rõ ràng; trong khi các giai đoạn trước chủ yếu là mô hình quyền lực tập trung hoặc chuyển tiếp. Từ sau năm 2016 có sự linh hoạt hơn trong tổ chức, bao gồm trường hợp một cá nhân kiêm nhiệm hai chức danh.

Vai trò, quyền hạn của 4 vị trí lãnh đạo cao nhất

Bốn chức danh lãnh đạo cao nhất tương ứng với 4 trụ cột quyền lực: Đảng (Tổng Bí thư) - Nhà nước (Chủ tịch nước) - Hành pháp (Thủ tướng Chính phủ) - Lập pháp (Chủ tịch Quốc hội). Cơ chế này được đặt trong nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan.

Tổng Bí thư

Tổng Bí thư là người đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chịu trách nhiệm cao nhất về sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Vai trò này gắn với quy định tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013, theo đó Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

4-vi-tri-thumb-1776638121.png

Từ vị trí đó, Tổng Bí thư chủ trì hoạt động của Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, đồng thời quyết định các chủ trương, đường lối lớn.

Về quyền hạn theo Điều lệ Đảng, Tổng Bí thư chịu trách nhiệm cao nhất về các lĩnh vực quan trọng như xây dựng Đảng, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và công tác cán bộ cấp cao.

Trong thực tế, quyền hạn này được thể hiện thông qua: Bí thư Quân ủy Trung ương: lãnh đạo Đảng đối với Quân đội; Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đó là các vai trò nhằm bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng trên các lĩnh vực then chốt.

Do đó, Tổng Bí thư quyết định đường lối và nhân sự, từ đó định hướng toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Chủ tịch nước

Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Vị trí này được quy định tại Chương VI, Hiến pháp năm 2013 và giữ vai trò trung tâm trong cơ cấu quyền lực Nhà nước.

Theo Điều 88, Hiến pháp năm 2013, quyền hạn của Chủ tịch nước gồm:

  1. Lập pháp: Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh (ký Lệnh công bố)
  2. Đối ngoại: Tiếp nhận đại sứ nước ngoài; cử và triệu hồi đại sứ Việt Nam; đại diện Nhà nước trong hoạt động đối ngoại cấp cao
  3. Tư pháp: Quyết định đặc xá, ân giảm án tử hình
  4. Quốc phòng - an ninh: Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh

Các quyền hạn này cho thấy Chủ tịch nước là người đại diện Nhà nước về pháp lý và đối ngoại, đồng thời có vai trò quan trọng trong lĩnh vực quốc phòng và tư pháp.

Thực tế:

Tháng 11/2025, Lương Cường với tư cách Chủ tịch nước đã chủ trì lễ công bố và trao quyết định thăng quân hàm Đại tướng, thể hiện trực tiếp quyền thống lĩnh lực lượng vũ trang theo Hiến pháp.

chu-tich-nuoc-qua-cac-thoi-ky-day-du-1776639084.png

Như vậy, Chủ tịch nước là người đại diện quốc gia và thực hiện các quyền hiến định quan trọng của Nhà nước.

Thủ tướng Chính phủ

Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ - cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp và điều hành hệ thống hành chính từ Trung ương đến địa phương. Vị trí này được quy định tại Chương VII, Hiến pháp năm 2013.

Theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ, Thủ tướng có các quyền hạn chính:

  • Lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và các bộ, ngành
  • Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội
  • Báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước Quốc hội
  • Chỉ đạo, xử lý các vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng

Thực tế:

  • Điều hành vĩ mô: Chủ trì các phiên họp Chính phủ để ban hành chỉ thị, nghị quyết về điều hành giá xăng dầu, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, ổn định kinh tế
  • Quan hệ với Quốc hội: Trình Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và thành viên Chính phủ
    thutuongquacacthoikyday-du-1776639177.png

Như vậy, Thủ tướng là người tổ chức thực hiện và điều hành thực tế các chính sách của Nhà nước.

Chủ tịch Quốc hội

Chủ tịch Quốc hội là người đứng đầu Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, đồng thời là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến và lập pháp theo Chương V, Hiến pháp năm 2013.

Theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội có các quyền hạn chính:

  • Lập pháp: Chủ trì các phiên họp của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; điều hành việc thảo luận, thông qua các dự án luật và nghị quyết
  • Giám sát: Điều hành hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đối với Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.
  • Ký chứng thực: Ký chứng thực luật, nghị quyết đã được Quốc hội thông qua - đây là bước pháp lý để văn bản chính thức có hiệu lực
  • Thực tế: Chủ tịch Quốc hội chủ trì và điều hành các phiên họp toàn thể, đặc biệt là các phiên chất vấn và trả lời chất vấn - nơi Quốc hội trực tiếp giám sát hoạt động của Chính phủ và các bộ, ngành.

    Như vậy, Chủ tịch Quốc hội là người điều hành việc làm luật và giám sát quyền lực Nhà nước.

  • chu-tich-quoc-hoi-cac-thoi-ky-dung-1776639123.png

Vị trí nào quyền lực nhất trong 4 vị trí trên?

Tổng Bí thư là vị trí thường được xem là quyền lực nhất trong 4 vị trí lãnh đạo cao nhất hệ thống chính trị.  Cụ thể:

  • Tổng Bí thư (Đảng): Quyết định đường lối, chiến lược và công tác cán bộ
  • Chủ tịch nước (Nhà nước): Đại diện quốc gia, thực hiện các quyền hiến định
  • Thủ tướng Chính phủ (Hành pháp): Tổ chức điều hành và thực thi chính sách
  • Chủ tịch Quốc hội (Lập pháp): Làm luật và giám sát quyền lực

Ba chức danh thuộc Nhà nước (Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội) thực hiện quyền lực Nhà nước - tức quyền lực được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 và thể hiện bằng các quyết định pháp lý.

Trong khi đó, Tổng Bí thư đứng ở trụ cột Đảng, nắm quyền lực chính trị theo Điều 4, Hiến pháp - loại quyền lực có vai trò định hướng toàn bộ hệ thống. Cụ thể:

  • Đường lối của Đảng => Quốc hội phải thể chế hóa thành luật
  • Chính sách lớn => Chính phủ tổ chức thực hiện
  • Công tác cán bộ => ảnh hưởng đến nhân sự của toàn bộ hệ thống

Chuỗi vận hành có thể hiểu như sau: Đảng (Tổng Bí thư) định hướng → Quốc hội làm luật → Chính phủ thực thi → Chủ tịch nước thực hiện vai trò nguyên thủ. Mặc dù không trực tiếp ký luật hay điều hành hành chính, Tổng Bí thư vẫn là người định hướng và chi phối toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Như vậy, Tổng Bí thư được xem là vị trí quyền lực cao nhất trong 4 vị trí, do nắm quyền lực chính trị ở cấp độ định hướng, cao hơn quyền lực Nhà nước mang tính thực thi.

Tiêu chuẩn cụ thể 5 chức danh Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước mới

Căn cứ tại Mục III Quy định 365-QĐ/TW năm 2025 quy định 5 chức danh Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chung nêu trên, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn của mỗi chức danh.

Năm chức danh gồm:

  1. Tổng Bí thư
  2. Chủ tịch nước
  3. Thủ tướng Chính phủ
  4. Chủ tịch Quốc hội
  5. Thường trực Ban Bí thư

Tiêu chuẩn của Thường trực Ban Bí thư như sau: Bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn chung của Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng thời cần có những phẩm chất, năng lực:

- Có uy tín cao, là trung tâm đoàn kết trong Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và trong toàn Đảng.

- Có tư duy lý luận chính trị sắc sảo. Có kiến thức và hiểu biết sâu rộng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... giàu kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Nhạy bén về chính trị, quyết liệt trong điều hành và có năng lực điều phối hài hoà, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

- Đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chức vụ bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương; tham gia Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ trở lên.

- Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định.

https://nguonluc.com.vn/chuc-nang-nhiem-vu-quyen-han-nghia-vu-trach-nhiem-cua-tong-bi-thu-a24349.html
https://nguonluc.com.vn/tham-quyen-nhiem-vu-nghia-vu-trach-nhiem-cua-chu-tich-nuoc-a24370.html
https://nguonluc.com.vn/tham-quyen-nhiem-vu-nghia-vu-trach-nhiem-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-a24396.html
https://nguonluc.com.vn/thu-tuong-chinh-phu-co-nhung-quyen-han-nghia-vu-trach-nhiem-gi-a24420.html

https://nguonluc.com.vn/chu-tich-quoc-hoi-co-vai-tro-nhiem-vu-quyen-han-va-trach-nhiem-gi-a24438.html

Nguyên Thảo (st)