Tổng Bí thư Trường Chinh - Người cộng sản mẫu mực - 3 lần làm Tổng Bí thư

Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, 3 lần làm Tổng Bí thư là nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam, người chiến sĩ cách mạng kiên cường, người cộng sản mẫu mực, trọn đời chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.

Đồng chí Trường Chinh (1907-1988), tên thật là Đặng Xuân Khu, bút danh Sóng Hồng, quê làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường (cũ), tỉnh Nam Định. Năm 1925, tham gia hoạt động đòi thực dân Pháp ân xá cho Phan Bội Châu. Năm 1926, tham gia lãnh đạo cuộc bãi khóa của học sinh các trường Nam Định để truy điệu Phan Chu Trinh. Chỉ tính riêng Trường Thành Chung, 54 học sinh bị đuổi hẳn, trong đó có những người sau này trở thành những lãnh tụ kiệt xuất của cách mạng Việt Nam như Đặng Xuân Khu, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Tường Loan.

6-1768379349.png
Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh và các đồng chí lãnh đạo họp bàn quyết định mở Chiến dịch tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ảnh Tư liệu.

Năm 1927, đồng chí Đặng Xuân Khu gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1930, được chỉ định vào Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Đặng Xuân Khu cũng hoạt động trong Đội Tuyên truyền xung phong của Thành ủy Hà Nội gồm các đồng chí: Lê Đình Tuyển, Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên), Giang Đức Cường... Đặng Xuân Khu (phụ trách sinh viên và binh lính).

Cuối năm 1930, đồng chí Đặng Xuân Khu bị thực dân Pháp bắt, giam ở Hỏa Lò sau đó bị đày đi nhà ngục Sơn La. Từ tháng 6 đến tháng 12/1930, Thành ủy Hà Nội phải lập lại ba lần. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Thành ủy, nhiều đảng viên và quần chúng trung kiên bị bắt: Nguyễn Ngọc Vũ, Lê Đình Tuyển, Đặng Xuân Khu, Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên), Giang Đức Hang Ngọc Bảo…

Tại nhà tù Hỏa Lò, đồng chí Trần Quý Kiên đã cùng các đồng chí Trường Chinh, Trần Bảo, Bùi Vũ Trụ... cùng nhau làm báo (Lao tù đỏ sau đổi thành Lao tù tạp chí) bí mật trong tù để tuyên truyền và giữ vững khí phách cách mạng. Hồi ký Hạt máu của đồng chí Trần Bảo viết: “Anh Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) vừa soạn bài, vừa viết sách dưới đó, tôi làm nhiệm vụ đứng gác bọn sếp ngục cho anh viết… Bản thảo viết ra được những tay chữ đẹp như: Khôi, Trụ, Nhạ (Đinh Xuân Nhạ tức Trần Quý Kiên) Tuân chép lại…”

tbt-tc-1768379387.png
Tổng Bí thư Trường Chinh. Ảnh báo Dân Việt.

Tháng 2/1933, đồng chí Đặng Xuân Khu bị đưa lên giam ở Nhà tù Sơn La. Tại đây, đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Trần Quý Kiên, Khuất Duy Tiến... đã bị coi là “cầm đầu” lãnh đạo, đấu tranh trong tù, bị Công sứ Sơn La liệt vào danh sách 22 kẻ cầm đầu, phản loạn, đích thực là cộng sản.

Tài liệu lưu trữ của mật thám Pháp có báo cáo của một tên chỉ điểm ở nhà tù Sơn La, ngày 26-1-1936, gửi cho Công sứ Sơn La viết: “Gần đây, bọn cộng sản đã tổ chức thành một chi bộ cộng sản...”. Ở mục “II- Tình hình tù nhân trong nhà tù Sơn La” và “1- Trong nhà tù có tổ chức 1 chi bộ cộng sản” gồm có: 1. Đặng Xuân Khu: số tù 439… 6. Nhạ (Đinh Xuân Nhạ tức Trần Quý Kiên): số tù 281”.

Cuối năm 1936, được trả tự do, đồng chí Đặng Xuân Khu hoạt động nửa hợp pháp ở Hà Nội. Tháng 3/1937, Xứ ủy Bắc Kỳ được thành lập do đồng chí Hoàng Tú Hưu làm Bí thư. 

truong-chinh-2560x1440-1768379472.jpg
Ảnh báo Nhân dân.

Xứ ủy viên gồm các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Nguyễn Văn Minh, Tô Hiệu, Lương Khánh Thiện, Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên), Đặng Xuân Khu (Trường Chinh). Đồng chí Đặng Xuân Khu phụ trách những hoạt động tuyên truyền công khai, nửa hợp pháp và hợp pháp, đặc biệt là chỉ đạo mặt trận văn hóa, báo chí, đồng thời làm một số công tác bí mật của Xứ ủy.

Cuối năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, ông chuyển vào hoạt động bí mật. Từ cuối tháng 9/1940, phát xít Nhật kéo quân vào chiếm Đông Dương. Trước tình hình ấy, từ ngày 6-9/11/1940, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ bảy tại làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn (cũ), tỉnh Bắc Ninh.

Tham dự hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Văn Thụ, Phan Đăng Lưu, Trần Đăng Ninh. Tại hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời được thành lập, bầu đồng chí Trường Chinh làm Quyền Tổng Bí thư.

9-1768379263.png
Đồng chí Trường Chinh (giữa) cùng các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng. Ảnh Tư liệu.

 Tháng 5/1941, tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang, Phùng Chí Kiên. Đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng. Ban Thường vụ Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt).

Sau Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng (9/3/1945), trên cơ sở nắm bắt tình hình cụ thể, toàn bộ nội dung hội nghị được đồng chí Trường Chinh phản ánh một cách cô đọng trong bản Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", ban hành rộng rãi vào ngày 12/3/1945.

"Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt, kịp thời của Trung ương Đảng, trong đó có vai trò của Tổng Bí thư Trường Chinh.

Ba lần trên cương vị Tổng Bí thư của đồng chí Trường Chinh: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương (1941-1951), Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam (1951-1956), Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), đồng chí Trường Chinh đã góp phần to lớn vào hiện thực hóa thắng lợi tư tưởng Hồ Chí Minh và lý tưởng của Đảng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người ở nước ta.

Tháng 8/1945, đồng chí Trường Chinh phụ trách Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ra Lệnh khởi nghĩa (Quân lệnh số 1) và là người có đóng góp xuất sắc vào thành công của Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, đồng chí Trường Chinh đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng và củng cố chế độ mới, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Tháng 2/1951, Đại hội đại biểu lẩn thứ II của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu giữ chức Chủ tịch Đảng. Bộ Chính trị do Trung ương bầu gồm: 7 ủy viên chính thức và 1 ủy viên dự khuyết: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương (dự khuyết). Đồng chí Trường Chinh tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư và giữ chức Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam đến năm 1956.

Từ năm 1960 đến 1981, được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Từ năm 1981 đến 1988 là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng chí Trường Chinh có nhiều công lao trong thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Đồng chí Trường Chinh là tác giả của nhiều tác phẩm và văn kiện nổi tiếng, như: Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (3/1945), Cách mạng tháng Tám: Kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, năm thứ nhất (1946), Kháng chiến nhất định thắng lợi (1947), Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948), Bàn về cách mạng Việt Nam (1951)... Đồng chí Trường Chinh không những là nhà chính trị, nhà cách mạng, nhà nghiên cứu lịch sử Đảng, lịch sử dân tộc mà còn là nhà thơ. Những bài thơ do đồng chí sáng tác từ năm 1927 đến 1973 được tập hợp, tuyển lựa in trong hai tập Thơ Sóng Hồng (tập 1, xuất bản năm 1966, tập II năm 1974).

Quá trình hoạt động cách mạng của Tổng Bí thư Trường Chinh

Năm 1925: Khi còn là học sinh, đồng chí tham gia đấu tranh đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu;

Năm 1926: Lãnh đạo cuộc bãi khóa ở Nam Định để truy điệu cụ Phan Chu Trinh, sau đó bị đuổi học;

Năm 1927: Tham gia Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương);

Năm 1929: Tham gia cuộc vận động thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ;

Năm 1930: Được chỉ định vào Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương; Cuối 1930 - Bị Pháp bắt và kết án 12 năm tù và đày đi Sơn La, đến năm 1936 được trả tự do:

Năm 1936-1939: Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Ủy ban Mặt trận Dân chủ Bắc Kỳ; 

Năm 1940: Chủ bút báo “Giải Phóng”, cơ quan của Xứ ủy Bắc Kỳ. Tại Hội nghị Trung ương 7 của Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được cử làm Quyền Tổng Bí thư của Đảng;

Năm 1941: Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8, đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương; Trưởng ban Tuyên huấn, chủ bút báo “Cờ Giải phóng” (cơ quan Trung ương của Đảng); Trưởng ban Công vận Trung ương;

Năm 1943: Bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt;

Ngày 9/3/1945: Chủ trì Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng ra chỉ thị về “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và chủ trương Tổng khởi nghĩa;

202442695950-146301-1768379601.jpg
Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đọc báo cáo trước Đại hội lần thứ II của Đảng, xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hóa (cũ) tháng 2/1951. Ảnh báo Tuyên Quang.

Tháng 8/1945: Tại Hội nghị toàn quốc của Đảng, đồng chí được cử phụ trách Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc;

Năm 1951: Tại Đại hội Đảng lần thứ II, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và giữ chức Tổng Bí thư đến tháng 10/1956;

Năm 1953: Trưởng ban Cải cách ruộng đất của Trung ương Đảng;

Năm 1958: Được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước;

Tháng 7/1960: Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II, đồng chí được bầu là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tháng 9/1960: Tại Đại hội Đảng lần thứ III, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị;

Tháng 12/1976: Tại Đại hội Đảng lần thứ IV, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị;

Năm 1981: Được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Tháng 3/1982: Tại Đại hội Đảng lần thứ V, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị;

Ngày 14/7/1986: Tại Hội nghị đặc biệt Ban Chấp hành Trung ương đã bầu đồng chí làm Tổng Bí thư của Đảng thay đồng chí Lê Duẩn đã từ trần;

Tháng 12/1986: Tại Đại hội lần thứ VI của Đảng, đồng chí được suy tôn làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng;

Ngày 30/9/1988: Đồng chí từ trần tại Hà Nội.

Nguyên Thảo (st)