PV: Với những dự án khoa học - công nghệ quy mô lớn, yếu tố con người thường quyết định khả năng đi từ ý tưởng đến sản phẩm. Theo Giáo sư, một dự án lớn thực sự cần một đội ngũ nhân lực như thế nào và đâu là những vị trí không thể thiếu để làm chủ một công nghệ từ nghiên cứu, thiết kế đến triển khai thực tế?
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Quốc Sỹ: Từ kinh nghiệm 40 năm nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực khoa học công nghệ, trong đó có hơn 30 năm làm việc tại Liên bang Nga và 8 năm trở về Việt Nam xây dựng Viện Công nghệ VinIT, tôi khẳng định: Yếu tố con người không chỉ “thường quyết định” mà là yếu tố then chốt, mang tính sống còn đối với thành bại của mọi dự án khoa học - công nghệ quy mô lớn. Một dự án lớn thực sự cần một đội ngũ nhân lực đa tầng, đa ngành, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp độ từ chiến lược đến thực thi như: Từ cấp độ lãnh đạo và chỉ huy; cấp độ nghiên cứu nền tảng, cần có các nhà khoa học đầu ngành trong từng lĩnh vực chuyên sâu; cấp độ thiết kế và phát triển; không thể thiếu đội ngũ quản lý dự án chuyên nghiệp, am hiểu cả khoa học lẫn kinh tế, có khả năng lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, kiểm soát tiến độ và chất lượng; cần có chuyên gia về chuyển giao công nghệ và thương mại hóa - những người hiểu thị trường, biết cách đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường, kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp và người dùng cuối.

Điểm tôi muốn nhấn mạnh là, để làm chủ một công nghệ từ nghiên cứu đến triển khai, không thể thiếu bất kỳ mắt xích nào trong chuỗi này. Nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, thường tập trung quá nhiều vào nghiên cứu mà xem nhẹ khâu thiết kế, sản xuất và thương mại hóa. Kết quả là có nhiều công trình nghiên cứu tốt nhưng không thành sản phẩm, không tạo ra giá trị kinh tế.
Tôi xin nói thêm: Yếu tố con người không chỉ là số lượng hay trình độ cá nhân, mà quan trọng hơn là khả năng làm việc nhóm, sự phối hợp giữa các chuyên ngành, và văn hóa tổ chức đề cao sáng tạo, chấp nhận rủi ro có tính toán.
PV: Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu hình thành và trọng dụng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học giỏi và “tổng công trình sư” có khả năng dẫn dắt những nhiệm vụ lớn. Theo Giáo sư, một “tổng công trình sư” cần hội tụ những năng lực gì ngoài chuyên môn sâu? Việt Nam hiện đã có thể hình thành đội ngũ này ở những lĩnh vực nào?
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Quốc Sỹ: Tôi cho rằng, một tổng công trình sư cần hội tụ những năng lực sau ngoài chuyên môn sâu gồm: Năng lực tổ chức và điều phối; có tầm nhìn chiến lược và khả năng dự báo; có năng lực ra quyết định trong điều kiện thông tin không đầy đủ; có kỹ năng giao tiếp và kết nối các bên liên quan; có hiểu biết về kinh tế và thị trường và điều quan trọng là có bản lĩnh và trách nhiệm.

Theo tôi, Việt Nam đã và đang có tiềm năng hình thành đội ngũ tổng công trình sư ở một số lĩnh vực như: Công nghệ thông tin và chuyển đổi số; công nghệ viễn thông và điện tử; công nghệ năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo; công nghệ sinh học và y sinh; công nghệ vật liệu mới và công nghệ nano…
Tôi cũng phải thẳng thắn chỉ ra rằng: Lực lượng chuyên gia đầu ngành theo chuẩn quốc tế của Việt Nam còn rất mỏng. Lực lượng nhân lực có trình độ chuyên gia và đầu ngành tập trung không đồng đều, nhiều ngành công nghệ chiến lược vẫn thiếu nhân lực dẫn dắt. Vì vậy, để hình thành đội ngũ tổng công trình sư thực sự, Việt Nam cần có chính sách đặc biệt: Tuyển dụng đặc biệt, đãi ngộ đặc biệt, và giao quyền tự chủ đặc biệt cho những người này. Như nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng đã khẳng định, Việt Nam có đủ cơ chế để tạo điều kiện tốt nhất cho chuyên gia về nước đảm nhận vai trò tổng công trình sư. Nhưng cơ chế phải đi vào thực tế, không chỉ dừng ở văn bản.
PV: Trong quá trình phát triển các công nghệ mới, có phải chúng ta đang thiếu những nhân tài thực thụ, theo Giáo sư, Viện sĩ đâu là những điều kiện quan trọng nhất để một chuyên gia có thể phát huy hết năng lực khi tham gia một dự án công nghệ quy mô lớn?
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Quốc Sỹ: Về việc thiếu người giỏi, tôi xin nêu một số con số: Theo các báo cáo gần đây, tỷ lệ nghiên cứu viên trên một vạn dân của Việt Nam chỉ khoảng 8-10 người, trong khi con số này ở Hàn Quốc là trên 70 người, ở Singapore là khoảng 50 người. Lực lượng chuyên gia đầu ngành theo chuẩn quốc tế của chúng ta còn rất mỏng, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học cao cấp.
Thực tế, Việt Nam có nhiều trí thức tài năng đang làm việc ở nước ngoài - theo ước tính có khoảng 400.000-500.000 người Việt làm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ tại các nước phát triển. Vấn đề là chúng ta chưa tạo được môi trường để thu hút họ về nước hoặc hợp tác hiệu quả với họ.
Về việc thiếu môi trường để người giỏi làm việc lớn, đây là vấn đề nghiêm trọng hơn. Theo tôi, để một chuyên gia có thể phát huy hết năng lực khi tham gia một dự án công nghệ quy mô lớn, cần có những điều kiện quan trọng sau: Tự chủ về chuyên môn và ra quyết định; nguồn lực tài chính đầy đủ và linh hoạt; đội ngũ hỗ trợ chuyên nghiệp; cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại; môi trường làm việc minh bạch, công bằng, đề cao sáng tạo và chấp nhận rủi ro có tính toán; đãi ngộ tương xứng với đóng góp; cơ hội hợp tác quốc tế…

Trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, nhiều chính sách đã được cải thiện. Việc xét duyệt chức danh tổng công trình sư lần đầu tiên trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng an ninh năm 2026 là một bước tiến quan trọng. Nhưng chúng ta cần làm nhiều hơn nữa, nhanh hơn nữa, để tạo môi trường thực sự cho người giỏi cống hiến.
PV: Thu hút chuyên gia giỏi từ nước ngoài có thể giúp bổ sung nhanh những năng lực còn thiếu, nhưng về lâu dài, một quốc gia vẫn phải tự xây dựng được đội ngũ của mình. Theo Giáo sư, làm thế nào để biến sự tham gia của các chuyên gia giỏi thành cơ hội đào tạo một thế hệ chuyên gia kế cận trong nước, thay vì chỉ giải quyết nhu cầu nhân lực trước mắt?
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Quốc Sỹ: Đây là một vấn đề chiến lược mà bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển khoa học công nghệ đều phải giải quyết. Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm: Thu hút chuyên gia nước ngoài là cần thiết, nhưng chỉ là giải pháp trước mắt; về lâu dài, mỗi quốc gia phải tự xây dựng được đội ngũ của mình, tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:
Một là, thiết kế cơ chế “kèm cặp” bắt buộc. Khi mời chuyên gia giỏi từ nước ngoài về tham gia dự án, cần yêu cầu họ dành một phần thời gian (ví dụ 20-30%) để đào tạo, hướng dẫn chuyên gia trẻ trong nước. Hai là, xây dựng nhóm nghiên cứu hỗn hợp. Mỗi dự án lớn nên có sự tham gia của cả chuyên gia nước ngoài và chuyên gia trong nước, trong đó chuyên gia trong nước được giao vai trò đồng chủ nhiệm hoặc trợ lý, để học hỏi trực tiếp từ chuyên gia nước ngoài. Ba là, tạo cơ hội cho chuyên gia trẻ tham gia sâu vào dự án. Không nên chỉ giao cho họ công việc phụ trợ, mà phải giao những nhiệm vụ khó, có tính thách thức, dưới sự hướng dẫn của chuyên gia giỏi. Bốn là, tổ chức các chương trình đào tạo ngắn hạn và dài hạn. Năm là, khuyến khích công bố khoa học chung. Khi chuyên gia nước ngoài và chuyên gia trong nước cùng công bố bài báo khoa học, sách, hoặc bằng sáng chế, đó là minh chứng cho việc chuyển giao tri thức đã diễn ra. Sáu là, xây dựng lộ trình chuyển giao rõ ràng. Bảy là, tạo động lực cho chuyên gia trong nước. Tám là, xây dựng văn hóa học hỏi và chia sẻ. Chín là, kết nối với mạng lưới kiều bào. Mười là, đầu tư cho giáo dục đại học và sau đại học. Cuối cùng, nguồn cung chuyên gia chất lượng cao phải đến từ hệ thống đào tạo trong nước. Nếu các trường đại học, viện nghiên cứu không đào tạo được thạc sĩ, tiến sĩ chất lượng cao, chúng ta sẽ mãi phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài.
PV: Theo Giáo sư, làm thế nào để biến chính những dự án lớn thành “môi trường đào tạo” thực tế, nơi người trẻ được làm việc cùng chuyên gia giỏi, được giao việc khó và từng bước trưởng thành thành lực lượng nòng cốt?
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Quốc Sỹ: Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm này: Dự án lớn không chỉ là nơi tạo ra sản phẩm công nghệ, mà còn phải là “trường học thực tế” để đào tạo thế hệ kế cận. Đây là mô hình đã được chứng minh hiệu quả tại nhiều nước phát triển, và Việt Nam cần học tập.
Tôi xin đề xuất các giải pháp sau: Thiết kế dự án có thành phần đào tạo ngay từ đầu; xây dựng cơ cấu tổ chức dự án theo mô hình “kim tự tháp”; giao việc khó có tính thách thức; tổ chức sinh hoạt khoa học thường xuyên; khuyến khích công bố khoa học từ kết quả dự án; tạo cơ hội tham gia hội thảo trong nước và quốc tế; áp dụng mô hình “học qua làm” (learning by doing); xây dựng cơ chế đánh giá và ghi nhận; kết nối dự án với chương trình đào tạo sau đại học; xây dựng văn hóa chia sẻ và học hỏi trong dự án.
Tôi cũng phải thừa nhận: Mô hình này đòi hỏi thời gian, kiên trì và đầu tư bài bản. Không thể đào tạo lực lượng nòng cốt trong 1-2 năm, mà cần 5-10 năm hoặc hơn. Vì vậy, các dự án lớn cần được thiết kế với tầm nhìn dài hạn, không chỉ chạy theo tiến độ trước mắt.
PV: Hiên nay, Việt Nam cần chuẩn bị ngay những nhóm nhân lực nào? Và theo Giáo sư, Viện sĩ, đâu là việc quan trọng nhất để những người trẻ có năng lực lựa chọn con đường khoa học công nghệ và muốn gắn bó lâu dài với những dự án lớn?

Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Quốc Sỹ: Từ quan sát của tôi về xu hướng thế giới và thực trạng Việt Nam, tôi xin đề xuất các nhóm nhân lực mà Việt Nam cần chuẩn bị ngay từ hôm nay: Nhân lực trong lĩnh vực bán dẫn và vi điện tử; nhân lực trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu; nhân lực trong lĩnh vực công nghệ sinh học và y sinh; nhân lực trong lĩnh vực năng lượng mới và công nghệ xanh; nhân lực trong lĩnh vực công nghệ vật liệu mới và nano; nhân lực trong lĩnh vực robot và tự động hóa; nhân lực trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo mật thông tin; nhân lực trong lĩnh vực công nghệ không gian và hàng không vũ trụ.
Đâu là việc quan trọng nhất để những người trẻ có năng lực lựa chọn con đường khoa học công nghệ và muốn gắn bó lâu dài với những dự án lớn? Tôi xin trả lời: Quan trọng nhất là tạo ra MÔI TRƯỜNG và CƠ HỘI để người trẻ thấy rằng con đường khoa học - công nghệ là đáng để theo đuổi, có ý nghĩa, và mang lại thành quả xứng đáng. Cụ thể hơn, theo tôi có ba yếu tố then chốt: Một là, ý nghĩa và sứ mệnh. Người trẻ ngày nay không chỉ làm việc vì tiền, mà còn vì ý nghĩa. Họ muốn biết công việc của mình đóng góp gì cho xã hội, cho đất nước. Hai là, cơ hội phát triển và thăng tiến. Người trẻ cần thấy có lộ trình rõ ràng: Sau 3 năm sẽ trở thành gì, sau 5 năm sẽ đạt được gì, sau 10 năm sẽ ở vị trí nào. Nếu họ thấy con đường khoa học công nghệ chỉ dẫn đến mức lương cố định, không có cơ hội thăng tiến, họ sẽ chuyển sang lĩnh vực khác. Ba là, đãi ngộ xứng đáng. Tôi không ngần ngại nói điều này: Khoa học công nghệ không thể là con đường của sự hy sinh nghèo khó. Một kỹ sư giỏi, một nhà khoa học tài năng phải có thu nhập tương xứng với đóng góp, ít nhất ngang bằng hoặc cao hơn so với làm việc tại doanh nghiệp tư nhân. Nếu không, chúng ta sẽ mãi chảy máu chất xám.
Tôi tin rằng, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, cùng với sự nỗ lực của cộng đồng khoa học trong và ngoài nước, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng được đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
PV: Trân trọng cảm ơn Giáo sư, Viện sỹ!