Đáng chú ý, cả hai chỉ số này đều liên quan trực tiếp đến chất lượng và tính ổn định của nguồn nhân lực giảng dạy – yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng đào tạo của một trường đại học.
Trong quản trị đại học, đội ngũ giảng viên không chỉ được nhìn bằng số lượng người đứng lớp. Quan trọng hơn là trường có xây dựng được lực lượng giảng viên cơ hữu đủ ổn định, có trình độ chuyên môn cao và có khả năng gắn bó lâu dài với hoạt động đào tạo, nghiên cứu hay không.
Chính vì vậy, Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã dành riêng Tiêu chuẩn 2 về giảng viên, quy định những yêu cầu tối thiểu mà các cơ sở giáo dục đại học phải đáp ứng.
Đối chiếu với các chỉ số được Trường Đại học Đại Nam công khai cho thấy hai vấn đề đáng chú ý.
Tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động chỉ đạt 58,05%
Theo Báo cáo công khai năm học 2025–2026, Trường Đại học Đại Nam công bố tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động là 58,05%.
Trong khi đó, Tiêu chí 2.2 của Chuẩn cơ sở giáo dục đại học quy định tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động trên tổng số giảng viên toàn thời gian phải không thấp hơn 70%.
Như vậy, theo chính số liệu mà Đại học Đại Nam công bố, chỉ số này thấp hơn mức tối thiểu của Chuẩn tới 11,95 phần trăm.

Khoảng cách này không phải là một chênh lệch nhỏ.
Về bản chất, tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động phản ánh mức độ ổn định của đội ngũ nhân lực cốt lõi trong một trường đại học. Đây là lực lượng có vai trò trực tiếp trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, xây dựng chương trình đào tạo, hướng dẫn sinh viên, tham gia hoạt động học thuật và duy trì sự phát triển lâu dài của cơ sở giáo dục.
Một trường đại học có tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động cao sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc xây dựng đội ngũ ổn định, phát triển chuyên môn dài hạn và giảm sự phụ thuộc vào nguồn nhân lực thiếu tính thường xuyên.
Ngược lại, khi tỷ lệ này thấp hơn mức tối thiểu 70%, vấn đề đặt ra không đơn thuần là “thiếu một số giảng viên”, mà còn liên quan đến năng lực hoạch định, tuyển dụng, sử dụng và giữ chân nguồn nhân lực của nhà trường.
Đáng chú ý, Báo cáo của Đại học Đại Nam còn cho thấy tỷ lệ này của năm trước liền kề là 59,81%, nghĩa là chỉ số năm báo cáo không những vẫn dưới Chuẩn mà còn thấp hơn năm trước.
Điều này đặt ra yêu cầu Đại học Đại Nam cần làm rõ lộ trình nâng tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động lên mức tối thiểu 70% theo quy định.
Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ cũng dưới mức yêu cầu
Chỉ số thứ hai đáng chú ý là tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ.
Đại học Đại Nam công bố tỷ lệ này ở mức 36,40%.

Trong khi đó, đối với cơ sở giáo dục đại học có đào tạo trình độ tiến sĩ và không thuộc nhóm trường đào tạo ngành đặc thù, Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT yêu cầu tỷ lệ giảng viên toàn thời gian có trình độ tiến sĩ phải không thấp hơn 40%; từ năm 2030 mức yêu cầu này tăng lên 50%.
Báo cáo của Đại học Đại Nam cho thấy trường đang có đào tạo trình độ tiến sĩ, với 38 nghiên cứu sinh đang học và 11 nghiên cứu sinh tuyển mới.
Như vậy, mức 36,40% mà Đại học Đại Nam công bố thấp hơn yêu cầu tối thiểu hiện hành khoảng 3,6 phần trăm.
Đây là một chỉ số cần được nhìn nhận nghiêm túc.
Nếu tỷ lệ giảng viên cơ hữu phản ánh mức độ ổn định của nguồn nhân lực, thì tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ lại phản ánh chất lượng học thuật của đội ngũ.
Đặc biệt với một trường đang tổ chức đào tạo tiến sĩ, yêu cầu về đội ngũ giảng viên trình độ cao càng có ý nghĩa. Đào tạo sau đại học, nhất là đào tạo tiến sĩ, đòi hỏi một lực lượng giảng viên có khả năng nghiên cứu độc lập, hướng dẫn nghiên cứu sinh, xây dựng nhóm nghiên cứu, công bố khoa học và duy trì môi trường học thuật có chất lượng.
Vì vậy, ngưỡng 40% không phải một con số mang tính hình thức.
Đó là một trong những yêu cầu tối thiểu để bảo đảm trường có đủ nền tảng nhân lực học thuật cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu ở trình độ cao.
Đáng chú ý, năm trước liền kề Đại học Đại Nam công bố tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ là 38,98%. Đến năm báo cáo, tỷ lệ này giảm xuống 36,40%.
Như vậy, chỉ số này không chỉ chưa đạt mức 40% mà còn có xu hướng giảm so với năm trước.
Hai chỉ số cùng dưới Chuẩn đặt ra bài toán về phát triển nguồn nhân lực
Nếu nhìn riêng từng con số, 58,05% hay 36,40% có thể chỉ được xem như những tỷ lệ thống kê.
Nhưng đặt trong tổng thể quản trị một trường đại học, hai chỉ số này phản ánh trực tiếp hai vấn đề cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực.
Một là khả năng xây dựng được đội ngũ giảng viên cơ hữu ổn định.
Hai là khả năng phát triển lực lượng giảng viên có trình độ học thuật cao.
Đây cũng chính là hai trụ cột quan trọng của quản trị nhân sự trong giáo dục đại học.
Một trường đại học có thể mở thêm ngành, tăng quy mô tuyển sinh hoặc đầu tư mạnh vào cơ sở vật chất, nhưng nếu đội ngũ giảng viên cơ hữu và giảng viên trình độ tiến sĩ không phát triển tương ứng thì chất lượng đào tạo khó có thể bảo đảm bền vững.
Đặc biệt, trong bối cảnh Đại học Đại Nam đang đào tạo cả trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng.
Báo cáo của trường cho thấy quy mô đào tạo hiện khá lớn, với hơn 23.500 người học trình độ đại học, bên cạnh người học thạc sĩ và tiến sĩ.
Do đó, câu hỏi cần đặt ra là: Đại học Đại Nam sẽ có giải pháp gì để đưa tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động từ 58,05% lên tối thiểu 70%, đồng thời nâng tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ từ 36,40% lên ít nhất 40% theo yêu cầu của Chuẩn?
Chuẩn cơ sở giáo dục đại học không chỉ là những con số để đưa vào báo cáo. Đằng sau tỷ lệ 70% hay 40% là yêu cầu về một đội ngũ giảng viên đủ ổn định, đủ trình độ và đủ năng lực để bảo đảm chất lượng đào tạo lâu dài.
Với Đại học Đại Nam, khi cả tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động và tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ đều đang thấp hơn mức tối thiểu, bài toán đặt ra không chỉ là hoàn thành một chỉ tiêu, mà là nâng chất lượng quản trị và phát triển nguồn nhân lực của chính nhà trường