Chủ tịch Hồ Chí Minh với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng

Bác Hồ kính yêu luôn dành sự quan tâm đặc biệt với thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng - những người hy sinh tính mạng hay một phần thân thể cho công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc. Tình cảm của Người biểu hiện sâu sắc truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” cao đẹp của dân tộc Việt Nam.

Kể từ ngày nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, tháng 9/1945, đến tháng 5/1969, có khoảng 25 lần Bác Hồ gửi thư thăm hỏi anh chị em thương binh, gia đình liệt sĩ. Trong nhiều bài nói, bài viết và các bức thư của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định và ghi nhận sự hy sinh cao cả của các thương binh, Anh hùng liệt sĩ. Người nói: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”.

bac-voi-ngay-27-7-6-300x171-1784859361.jpg
Nơi ghi dấu sự ra đời của ngày “Thương binh toàn quốc” – 27/7. Ảnh Tư liệu ↵

Từ Sắc lệnh số 20/SL đến Ngày thương binh, liệt sĩ

Ngày 19/12/1946, sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiến tranh lan rộng ra nhiều vùng. Số người bị thương và tử nạn tăng lên rất nhanh do sự chênh lệch về trang bị vũ khí cũng như những chiến thuật chiến đấu. Đời sống của binh lính lúc đó, nhất là những binh sỹ bị thương, gia đình liệt sĩ gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Thông báo “về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi”.

Thông báo có đoạn viết: “Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sĩ đó và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của tôi”. Người đã yêu cầu các làng, chính quyền địa phương lập danh sách, xem xét, nếu đúng sự thật thì “đóng dấu chứng nhận rồi gửi ngay về Văn phòng Chủ tịch Chính phủ ở Hà Nội".

Ngày 16/2/1947, trên cương vị Chủ tịch nước, Người ký Sắc lệnh số 20/SL ban hành chế độ hưu bổng thương tật và tiền tử tuất. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên đặt nền tảng cho chính sách thương binh, liệt sĩ của nước ta.

Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp đã thu hút nhiều thanh niên tham gia chiến đấu. Một số chiến sĩ đã hy sinh anh dũng, một số nữa là thương binh, bệnh binh, đời sống gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình ấy, tháng 6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó trong năm làm “Ngày thương binh” để đồng bào ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh.

26-07-2021-nhung-bai-hoc-quy-gia-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-doi-voi-thuong-binh-liet-si-97634797-details-1784859599.jpg
Bác Hồ dâng hương, đặt vòng hoa ở tượng đài liệt sĩ tại Hà Nội (31/12/1954). Ảnh Tư liệu.

Hưởng ứng và đáp lại tấm lòng của Bác, một hội nghị trù bị của Trung ương tổ chức tại xã Phú Ninh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (cũ), đã nhất trí lấy ngày 27/7 là “Ngày thương binh toàn quốc”. Đến tháng 7/1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi ngày này thành ngày “Thương binh - liệt sĩ” và tên gọi đó được trân trọng lưu giữ cho đến hiện nay.

Khi phong trào “đền ơn đáp nghĩa” đối với thương binh, gia đình liệt sĩ được phát động và triển khai, Bác luôn tiên phong gương mẫu thực hiện. Người viết trong thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức ngày “Thương binh toàn quốc” tháng 7/1947: “Ngày 27/7 là một ngày kỷ niệm. Mỗi năm đến ngày ấy, thì những người ái quốc Việt Nam càng tưởng nhớ đến anh em thương binh, tưởng nhớ đến các liệt sĩ, tưởng nhớ đến những người vô danh anh hùng, hoặc đã hy sinh tính mệnh, hoặc đã góp phần xương máu trong cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc ta...”. 

Cuối thư, Người vận động đồng bào nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ thương binh. Bản thân Người đã xung phong góp chiếc áo lụa, một tháng lương và tiền ăn một bữa của Người và của tất cả các nhân viên của Phủ Chủ tịch, tổng cộng là 1127 đồng để tặng thương binh.

Đến ngày 3/10/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Bộ Thương binh - Cựu binh (tiền thân của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) để chuyên trách chăm lo đến thương binh, liệt sĩ. Sắc lệnh trên là cơ sở để thực hiện đồng bộ trong cả nước về chế độ, chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, Nhân dân đối với những người có công với cách mạng.

Trải qua hàng chục năm chiến đấu cho lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, hàng triệu đồng bào ta đã hy sinh, hàng chục vạn người đã cống hiến một phần thân thể của mình. Thấu hiểu những hy sinh to lớn đó, Người căn dặn: “Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh hùng ấy, mọi người phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các anh hùng liệt sĩ để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã để lại cho chúng ta.

chu-tich-ho-chi-minh-tham-va-chuc-tet-cac-dong-chi-thuong-binh-hong-mat-nam-1956anh-tu-lieu-1784859781.png
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết các đồng chí thương binh hỏng mắt (năm 1956). Ảnh Tư liệu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chăm sóc thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ là nghĩa cử cao đẹp, là trách nhiệm

Người cũng chỉ ra rằng, công việc chăm sóc thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ vừa là nghĩa cử cao đẹp, vừa là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Công việc đó cần phải thiết thực, có tổ chức và thể hiện trong mọi hoàn cảnh, mọi đơn vị, mọi làng xã. Và quan trọng hơn là công việc đền ơn đáp nghĩa không phải chỉ thực hiện trong ngày một ngày hai, chỉ trong những ngày lễ tết, mà phải duy trì liên tục và duy trì mãi mãi: “Tôi mong và chắc rằng: Đồng bào trước đã giúp đỡ, sau này sẽ sẵn sàng giúp đỡ mãi”.

Sau này, mặc dù bận rộn với nhiều công việc quan trọng của đất nước nhưng Bác vẫn thường xuyên nhắc nhở các địa phương phải thực hiện nghiêm chỉnh những chủ trương, chính sách của Nhà nước dành cho thương binh, liệt sĩ: “Tôi nhắc các cơ quan, đoàn thể phải chấp hành một cách chu đáo các chính sách của Đảng và Chính phủ đối với anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ... Nhiều nơi đồng bào đã hiểu đúng và làm như vậy. Nhưng cũng còn một số ít địa phương chưa hiểu đúng, làm đúng. Tôi mong rằng đồng bào, đoàn thể và cán bộ ở những địa phương đó sửa chữa những thiếu sót ấy và quan tâm giúp đỡ những người đã từng hy sinh cho nước nhà”.

Người thường xuyên đến động viên, thăm hỏi và có nhiều ý kiến huấn thị, căn dặn các thương, bệnh binh và thân nhân liệt sĩ. Trong đó, Người nhấn mạnh đến việc phải giữ gìn phẩm chất, đạo đức của người chiến sĩ cách mạng và phải không ngừng phấn đấu vươn lên để chiến thắng bệnh tật, chiến thắng hoàn cảnh; từ đó tham gia học tập và lao động sản xuất, góp phần vào công cuộc kháng chiến và xây đựng đất nước.

Người cũng đã rất nhiều lần khen thưởng các thương, bệnh binh đã cố gắng trong việc rèn luyện sức khoẻ và học tập, tham gia lao động sản xuất, không chỉ đã từng là chiến sĩ kiểu mẫu ngoài mặt trận mà còn trở thành những công dân kiểu mẫu ở hậu phương... Trước những biểu hiện chưa đúng đắn ở một số thương, bệnh binh, Người cũng đã động viên, nhắc nhở kịp thời để họ nhận rõ sai lầm mà sửa chữa, phấn đấu tiến bộ.

bcf1e4077ebb47ea211046a9704b25abatl-1784859942.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước viếng các liệt sĩ tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, ngày 31/12/1954. Ảnh Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Trong Ngày Thương binh - Liệt sĩ tổ chức lần đầu tiên ở Việt Bắc (ngày 27/7/1947), tại cuộc mít tinh kỉ niệm có mặt 2.000 người tham dự, Ban Tổ chức đã đọc bức thư của Bác Hồ gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức Ngày “Thương binh toàn quốc”, nói rõ ý nghĩa của ngày kỷ niệm và kêu gọi mọi người có hành động thiết thực giúp đỡ thương binh: Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm đau, què quặt. Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy".

Nhân ngày này, Bác Hồ gửi tặng Ban Thường trực 1 chiếc áo lụa, 1 tháng lương của Người, tiền 1 bữa ăn của Người và của nhân viên làm việc trong Phủ Chủ tịch, tổng cộng 1.127 đồng.

Xuất phát từ thực tế đất nước còn nghèo lại đang tiến hành kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ cho rằng công tác thương binh, liệt sĩ là việc làm “lâu dài chứ không phải chỉ trong một thời gian”. Do đó, phải chú trọng những biện pháp để đồng bào nhiệt tình đền ơn, đáp nghĩa, còn những người được giúp đỡ thì “yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần và có dịp tham gia hoạt động lợi ích cho xã hội”.

Với các thương binh, Người ân cần căn dặn: “Hòa mình với nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân, không công thần, không coi thường lao động, không coi thường kỷ luật, không bi quan chán nản” và “thương binh tàn nhưng không phế”...

bac-ho-vieng-nghia-trang-liet-si-1784860158.jpg
Bác Hồ viếng nghĩa trang liệt sĩ. Ảnh Tư liệu.

Hằng năm, cứ đến ngày 27/7, Bác đều gửi thư và tặng quà cho các thương binh, gia đình liệt sĩ. Trước lúc đi xa, Bác Hồ vẫn luôn canh cánh trong lòng việc đền ơn đáp nghĩa với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.

Tháng 5/1968, mặc dù đang ốm mệt, Người vẫn đọc lại bản thảo Di chúc và viết bổ sung một số nội dung, trong đó có đoạn về thương binh, liệt sĩ: "Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong..,), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho Nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét".

bac-ho-voi-thuong-binh-1784859031.jpg
Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở Trung tâm điều dưỡng Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh Tư liệu.

Có thể nói, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho thương binh, liệt sĩ những tình cảm, sự quan tâm đặc biệt nhất. Tình cảm đó không chỉ là những lời kêu gọi mộc mạc, chân thành, giản dị mà còn thể hiện qua hành động cụ thể đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ.

Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam cần tích cực học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cùng với Đảng, Nhà nước, các ban ngành, đoàn thể các cấp thực hiện tốt các chính sách xã hội, chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của thương binh, bệnh binh và gia đình có công. Đó là tình cảm, trách nhiệm, là bổn phận của mỗi chúng ta và của toàn xã hội.

Thực hiện tâm nguyện của Người, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã thể hiện trách nhiệm đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ bằng những chính sách ngày càng hoàn thiện.

Trong cả nước, những chương trình xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa; chăm sóc và nuôi dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng; quy tập hài cốt liệt sĩ vào nghĩa trang; xây dựng nhà tình nghĩa cho thương binh, gia đình liệt sĩ cùng với chương trình hỗ trợ vốn giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, miễn viện phí, học phí cho những gia đình chính sách đã được thực hiện.

Điều đó cho thấy dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn coi trọng công tác thương binh, liệt sĩ, thể hiện truyền thống, đạo lý tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” ngàn đời của dân tộc Việt Nam.

Nguyệt Thảo (t/h)