Bút ký: Vầng sáng phía Đô Thành

Trong ký ức người dân xóm Yên Hội – xã Đông Thành - tỉnh Nghệ An; vào giữa những năm chín mươi của thế kỷ trước, vẫn còn in đậm bóng dáng thằng cu Đen, tên thường gọi của Phạm Thanh Trâm; một đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, ở với bác họ, nó lầm lũi từ sáng đến tối đi mót lúa, nhặt bẹ ngô, nhặt sắt vụn, có lúc tối mịt mới bơ phờ mỏi mệt trở về; cái bóng dáng côi cút ấy, như nhòe đi trong bóng hoàng hôn cuối làng, trong tiếng chép miệng của người già “Cái thằng, đời đến là tận khổ…”
anh-1-1766924159.jpg
Gia đình Thượng tá Phạm Thanh Trâm

 Giông tố một đời người

Thằng cu Đen sinh ra tại Bãi kè, một vùng ma thiêng nước độc thuở trước ở miền tây xứ Nghệ. Cha hắn ông Phạm Thanh Hiệp vốn là một cựu chiến binh, sau chống mỹ về quê thấy cảnh nhà xơ xác quá liền làm một chuyến hành phương tây, tìm đến với khoai sắn cho qua đận đói kém. Chính cái nơi mà cụm từ  “xây dựng kinh tế mới” này đã quật cho gia đình hắn tan nát. Lên chỗ ở mới, chưa ấm chỗ cha hắn ngã  bệnh, vết thương tái phát và qua đời để lại người vợ góa và đàn con khiếp đảm trong sợ hãi. Nhà có 5 chị em, Trâm là con út lúc ấy mới ra đời. Người mẹ trong cảnh đất khách quê người, thê thảm hơn đã chết theo luôn chồng, thế là chị em tan tác, mỗi đứa một nơi. Còn hắn, may ông bác ở quê, kịp lên bế về quê nhà nuôi cho qua ngày đoạn tháng. Bác hắn cũng khổ nay lại phải cưu mang thêm một mạng người nữa nên vất vả thêm. Hắn sớm nhận ra được điều đó, nên sớm lang thang kiếm sống. Rồi có lần hắn tìm đến một trại trẻ mồ côi, cứ tưởng như dịp may tới rồi, không hiểu sao đến phút cuối cùng hắn lại bị từ chối; hắn thất thểu trở lại xóm Yên Hội, mượn một cái lều nhỏ của người bản xứ trú ngụ, kiếm sống qua ngày và cố gắng tìm lấy con chữ. Lịch trình của hắn sáng tới trường, chiều đi kiếm ăn. Nhặt hết bờ đến bụi, miễn kiếm được vài đồng bỏ túi… Trong cái tuổi thơ buồn bã ấy,  hắn sợ nhất là sự kỳ thị, đói rét, ốm đau và cô độc, nhưng sự ghẻ lạnh, khinh bỉ của đời mới khủng khiếp.

May sao, vẫn có người thương đến hắn. Lúc ấy cô giáo Phan Kim Anh, sau này là hiệu trưởng  trường trung học cơ sở Đô Thành đã kịp nhận ra thằng bé lem luốc, côi cút nhưng thông minh này nên kịp thời đỡ đầu cho hắn học tập ở trường. Hắn mừng có kể, rồi thì bạn bè chòm trên, xóm dưới, thầy cô trong trường, kẻ ít người nhiều, lá lành đùm lá rách, cho hắn qua được tuổi thơ dữ dội. Có điều, sự giúp đỡ ấy cũng có giới hạn, hắn học… rồi bỏ… bỏ rồi lại học, trì trật vậy mà hắn tốt nghiệp được cấp 3. Hè năm ấy, hắn quyết chí thi vào Trường sỹ quan Thông tin. Nhưng vay mượn mãi mà không kiếm nổi 80 nghìn đồng để làm hồ sơ thi đại học. Khi nhận ra sự thực chua chát ấy, hắn đã khóc. Những giọt nước mắt nóng bỏng lăn trên khuôn mặt như hốc hác đi vì thất vọng, cay đắng biết nhường nào. Nhưng giấc mộng lớn ấy vẫn còn đeo đẳng, không đi thẳng thì hắn đi vòng, hắn xin đi bộ đội.

anh-2-1766924159.jpg
Phạm Thanh Trâm thăm, tặng hoa thầy giáo nhân ngày Nhà giáo Việt Nam

Sau mấy năm cật lực phấn đấu, hắn thi đỗ Học viện Chính trị. Ngày cầm giấy báo hắn cứ ngẩn ngơ và hắn lao vào học. Tốt nghiệp loại giỏi hắn ra trường về nhận công tác tại Trạm ra đa 19, Trung đoàn 295, sư đoàn 363, Quân chủng Phòng không - Không quân. Hắn về làng, người ta ngỡ ngàng, chào đón hắn “thằng bé bị cói bị lác” ngày xưa nay là một sĩ quan chững chạc, hắn trở thành niềm tự hào của người dân Yên Hội. Các cụ khi đe nẹt các con trong chuyện học thường trịnh trọng “ bay coi…anh cu Đen đó… mới hồi…rứa mà dừ…..cứ coi đi đó mà học tâp”.

Hành trình tìm ký ức

Khi đã thành đạt, một nỗi niềm đau đáu trong tâm khảm người sĩ quan trẻ tuổi này là mồ mả cha mẹ ở đâu; các chị thất lạc ở nơi nào? Làm sao kiếm lại được? Sau những giờ làm việc căng thẳng, anh thường tựa lưng vào lan can nhìn xa xăm về cuối chân trời, nơi ấy hoàng hôn như lửa cháy… Tâm sự ấy của anh, sau đồng đội thấu tỏ, họ bàn bạc với nhau và rất may Hội cựu chiến binh ra đa Thanh Hóa, đơn vị kết nghĩa nghe chuyện, nhiều người nước mắt lưng tròng, họ nói; “Phải giúp đồng chí ấy thôi. Trời ơi! Sao lại có chuyện đến thế…”. Chọn một ngày trọng đại, đoàn quân nghĩa hiệp ấy nhằm hướng tây Nghệ An thẳng tiến; xưa Nguyễn Chích hiến kế cho Lê Lợi bỏ Thanh Hóa vào xứ Nghệ để lấy được thiên hạ, nay đoàn quân nghĩa hiệp ấy từ xứ Thanh vào đất Nghệ làm việc đại nghĩa…họ đã tìm đến  bạn bè nơi Trâm đã sinh ra, một vùng đất mà đến khi ấy vẫn còn hoang vắng; họ đào mãi, đào mãi theo sự chỉ dẫn của người dân địa phương, những con người khốn khổ trong đói nghèo ấy, đã tự tay chôn cất người mẹ xấu số của Trâm… khi đã gần như mệt nhoài thì hy vọng bùng lên, họ đã tìm được mộ Bà. Trong ngôi mộ ấy có một  mảnh vải bật lên, một cái kẹp tóc. Kỷ vật ấy chính là tài sản cuối cùng mà người dân chôn theo cho Bà, với hy vọng sau này con cháu tìm về sẽ nhận ra kỷ vật, đúng là kỷ vật của mẹ; cả mấy chị em ôm nhau khóc trong đớn đau và may mắn tột cùng.

anh-4-1766924785.jpg
Thượng tá Phạm Thanh Trâm - Phó trưởng phòng Tuyên huấn - Cục Chính trị - Quân chủng PK - KQ đang làm nhiệm vụ

Đưa được hài cốt mẹ về, Trâm lại đi tìm mộ bố và rất may ước nguyện cao cả ấy đã được toại nguyện. Thế là đưa được bố mẹ về quê, lại tìm được các chị, trong niềm vui có nỗi buồn; vì đói khổ lưu lạc, có 2 chị đã mất, có chị lấy người dân tộc, ở trong bản làng, có chị dạt về xuôi, lấy chồng gần đó mà mãi sau mới biết… Khi ổn định sự nghiệp, mọi người giục Trâm lấy vợ, rồi đòi về quê xem nhà. Trâm mới ớ người ra và tìm cách từ chối; có nhà đâu mà về; mà đúng hơn là có một cái lều, người ta cho mượn… chuyện cười ra nước mắt. Cạnh làng có một gia đình thương thằng bé nghèo mà ham làm, ham học, có cái lều dựng lên để trông coi hoa màu, thế là họ cho Trâm mượn có chỗ đi về cho… thoải mái. Ông chủ nhà hay thương người ấy, có đứa con gái, thi thoảng ra ngó anh Trâm học bài; rồi chuyện trò bầu bạn, cứ như trong cổ tích ấy, đôi lứa cảm thương nhau; sau này thành đạt đàng hoàng rồi, Trâm bỏ qua tất cả những chốn cao sang đang sẵn sàng đón nhận mình trở về với mảnh hồn quê, hồi đi học. Trâm nghe thầy giáo dạy văn bình thơ Nguyễn Bính: “Tuổi thơ tóc để gáo dừa/ Mẹ bắt hai đứa mang bùa cần nong/ Đôi ta cùng học vỡ lòng/ Nắm tay đi giữa cánh đồng cỏ xanh…”. Đời có sự lạ, Nguyễn Bính tiên sinh cứ như là viết cho đời này vậy. Vận vào những câu thơ trên và họ nên duyên vợ chồng. Người làng nể Trâm lắm, vì trong cuộc tơ duyên nàng có cả nghĩa…

Giờ đây Phạm Thanh Trâm, nguyên quán Yên Hội – Đô Thành – Yên Thành – Nghệ An (Nay là xã Đông Thành, tỉnh Nghệ An) đã là một sỹ quan đang công tác tại Quân chủng phòng không – Không quân. Thằng bé nhặt sắt vụn, mua lốp xe cũ, ống bơ hỏng năm nào… nay được cô giáo Phan Kim Anh - Hiệu trưởng trường THCS Đô Thành tuyên dương trước hàng trăm học sinh vì  ý chí học tập và tấm gương về nghị lực sống; còn bạn bè cùng trang lứa gặp nhau, nói về Trâm họ chỉ còn biết thán phục, “Thằng Trâm thế mà ổn…”

anh-3-1766924159.jpg
Trần Duy Khánh, giáo viên trường THCS Vĩnh Thành - Nghệ An cùng gia đình học trò cưng của mình

Một điều đáng nói nữa là duyên trời sắp đặt, chồng nào thì vợ nấy; vợ Trâm, cô bé Đàm Thị Nhâm rụt rè ngày xưa, nay đã mạnh dạn, tự tin làm việc thiện, hỗ trợ cho người chồng yên tâm công tác. Điển hình là có lần Đàm Thị Nhâm đã nhặt được một cái ví căng phồng, trong đó có 6 triệu tiền mặt, một tệp ngoại tệ, một thẻ ATM và nhiều giấy tờ tùy thân mang tên Nguyễn Văn Đảng. Ngay lập tức chị thông báo và tìm chủ nhân trả lại, khi nhận được thông tin anh Đảng (sinh năm 1993) trú tại xóm Sung Yên đến UBND xã Đô Thành, liên hệ với chính quyền nhận lại tài sản. Anh Đảng chia sẻ trên đường đi trả nợ, bị rơi ví trong đó quy ra tiền Việt Nam là 165 triệu đồng. Nhận lại đầy đủ tài sản anh vô cùng cảm động và biết ơn và điều đáng ngạc nhiên nữa đây là lần thứ 3 trong năm, chị Nhâm nhặt được tiền và trả lại cho người mất.

Người làng thường tấm tắc, chồng nào vợ nấy, được cả đôi… Sau những ngày làm việc căng thẳng, các kỳ nghỉ phép, Trâm thường cùng vợ tìm và tri ân lại những người thân, những người cưu mang mình trong ký ức khốn khó, tìm lại thầy cô giáo, bạn bè một thuở với tấm lòng chân thành nhất.

Cổ tích giữa đời thường, một trang đời đầy bão giông, nhưng kết thúc lại có hậu. Chuyện này viết lại đôi khi cứ ngỡ như thuở nào “Thuở ấy làm sao thật thái bình…” và cầu mong cho cặp vợ chồng đẹp đôi này sẽ sát cánh bên nhau, viết lại, viết thêm những trang cổ tích đẹp mãi trong đời; để sau này, người Làng Vườn; bên chõng tre và ấm chè xanh, dưới trăng hè, thường kể cho con cháu nghe rằng “hồi nớ làng ta có một cặp vợ chồng…đã trải qua nhiều bão giông và đơm hoa kết trái.”

Trần Duy Khánh - Giáo Viên trường THCS Vĩnh Thành