Chuyển từ tư duy “nắm bắt để phản ánh” sang “nghiên cứu để dự báo và tham mưu”
Trước những biến đổi nhanh chóng của môi trường thông tin, yêu cầu đặt ra đối với công tác dư luận xã hội cao hơn. Tham luận tại hội thảo Công tác dư luận xã hội trong triển khai, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Tiến sỹ Phạm Thu Hà, Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu-Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cho rằng, trước những thách thức đó, công tác dư luận xã hội không chỉ dừng ở chức năng nắm bắt và phản ánh thông tin như trước đây mà cần được đổi mới theo hướng nâng cao năng lực nghiên cứu, phân tích, dự báo và tham mưu chiến lược.

Theo đó, công tác dư luận xã hội không chỉ phản ánh những gì đang diễn ra mà còn phải nhận diện được nguyên nhân của vấn đề, đánh giá xu hướng vận động của dư luận và dự báo những tác động có thể xảy ra đối với đời sống xã hội. Từ góc độ đó, công tác dư luận xã hội cần chuyển từ tư duy “nắm bắt để phản ánh” sang tư duy “nghiên cứu để dự báo và tham mưu”. Giá trị của công tác dư luận xã hội không chỉ nằm ở việc cung cấp thông tin về những vấn đề xã hội đang được quan tâm mà còn ở khả năng phát hiện sớm các dấu hiệu tiềm ẩn, nhận diện những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến niềm tin xã hội, dự báo các xu hướng vận động của dư luận và tham mưu các giải pháp phù hợp cho cấp ủy, tổ chức đảng.
Tiến sỹ Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cho rằng, trước hết cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị về vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của công tác dư luận xã hội; xác định công tác dư luận xã hội không chỉ là hoạt động nghiệp vụ của ngành tuyên giáo và dân vận, mà là một bộ phận quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là khâu bắt buộc trong quá trình lãnh đạo, quản lý và quản trị xã hội.
Tiến sỹ Phạm Tất Thắng cho rằng, cần đưa công tác điều tra, nghiên cứu dư luận xã hội trở thành khâu bắt buộc trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Đối với những chủ trương, chính sách lớn có tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân, cần tiến hành điều tra dư luận xã hội, đánh giá mức độ đồng thuận xã hội trước khi ban hành; đồng thời theo dõi sát diễn biến dư luận trong quá trình thực hiện và đánh giá tác động xã hội sau khi triển khai. Kết quả nắm bắt, điều tra, nghiên cứu dư luận xã hội phải trở thành căn cứ quan trọng phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoàn thiện chính sách, góp phần hiện thực hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

“Đồng thuận xã hội không chỉ là điều kiện để chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống, mà còn là nguồn lực tinh thần to lớn để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy vai trò của công tác dư luận xã hội chính là góp phần làm cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước xuất phát từ cuộc sống, hợp lòng dân, được Nhân dân đồng tình, ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện. Khi “ý Đảng” hòa quyện với “lòng dân”, khi niềm tin xã hội được củng cố, khi đồng thuận xã hội được tăng cường, đó sẽ là nền tảng vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới”, Tiến sỹ Phạm Tất Thắng khẳng định.
Chuyển từ quản lý thông tin sang quản trị niềm tin
Nếu công tác dư luận xã hội giúp nhận diện, dự báo và tham mưu xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn thì truyền thông chính sách là cầu nối quan trọng đưa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đến với Nhân dân.
Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết công tác tuyên giáo và dân vận 6 tháng đầu năm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết cho rằng, làm tốt truyền thông chính sách chính là cách trực tiếp phục vụ mục tiêu tăng trưởng bởi nó tạo ra sự đồng lòng - điều kiện tiên quyết để khơi thông mọi nguồn lực trong xã hội. Truyền thông chính sách không phải là thông báo cho dân biết sau khi đã quyết xong, mà phải đi cùng cả quá trình hoạch định và thực thi - giải thích để dân hiểu, đối thoại để dân đồng thuận, đồng thuận để tạo động lực hành động.

Trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh mẽ và thông tin lan truyền với tốc độ rất nhanh, yêu cầu đối với công tác tuyên giáo, dân vận không chỉ dừng ở việc cung cấp hay định hướng thông tin. Mục tiêu cao hơn là xây dựng và củng cố niềm tin xã hội. Trên tinh thần đó, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cho rằng, Tuyên giáo và dân vận cần chuyển từ quản lý thông tin sang quản trị niềm tin. “Trong thời đại bùng nổ thông tin, chúng ta không thể và cũng không cần kiểm soát mọi luồng tin; điều cốt lõi là làm cho Nhân dân có đủ cơ sở, đủ niềm tin để tự phân biệt đúng - sai, tự đề kháng trước thông tin xấu, độc.
Niềm tin mới là tuyến phòng thủ cuối cùng, là “vùng cấm” mà không một thế lực nào được phép xâm phạm. Quản trị niềm tin, không phải là áp đặt, mà là bồi đắp - bằng sự thật, bằng những thành quả phát triển mà người dân được thụ hưởng, bằng sự nêu gương và liêm chính của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mỗi vụ việc tiêu cực không được xử lý đến nơi, mỗi lời hứa không được thực hiện, mỗi biểu hiện xa dân, vô cảm đều là một vết xói mòn niềm tin, và niềm tin một khi đã mất thì rất khó lấy lại.
Vì vậy, giữ gìn niềm tin của dân là trách nhiệm không của riêng ngành tuyên giáo, dân vận, mà của cả hệ thống chính trị, của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Đó cũng chính là nội hàm sâu xa nhất của hai chữ “dân vận” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng căn dặn", Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương nhấn mạnh.