Tạo cơ sở pháp lý bảo vệ cán bộ năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình tóm tắt về dự án Nghị quyết, Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, việc xây dựng hồ sơ dự án Nghị quyết để thể chế hóa Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 1/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước… Đồng thời, để khắc phục những khó khăn, vướng mắc của thực tiễn để khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm.

Về mục đích, quan điểm xây dựng nghị quyết, ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương Đảng, đồng thời, tạo cơ sở pháp lý bảo vệ cán bộ năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thể hiện sự nhân văn, khoan hồng của Đảng, Nhà nước, lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội để xử lý phù hợp.
Dự thảo Nghị quyết gồm 3 chương, 13 điều với các nội dung cụ thể như sau:
Chương I (có 4 điều từ Điều 1 đến Điều 4) quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc thực hiện và giải thích từ ngữ. Theo đó, Nghị quyết này quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật nêu trên.
Nghị quyết này quy định các nguyên tắc thực hiện, trong đó có các nguyên tắc quan trọng, cốt lõi gồm: Thứ nhất, khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Thứ hai, khoan hồng, giảm nhẹ đối với hành vi vi phạm nhưng vì lợi ích chung, lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội để xử lý phù hợp. Thứ ba, ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính, xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng. Thứ tư, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng nghị quyết này để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Bên cạnh đó, dự thảo Nghị quyết đã giải thích 9 thuật ngữ để thống nhất cách hiểu gồm: Thứ nhất, không tham nhũng. Thứ hai, vì lợi ích chung. Thứ ba, hậu quả thiệt hại. Thứ tư, khắc phục hậu quả thiệt hại. Thứ năm, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cho địa phương, đất nước. Thứ sáu, không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo. Thứ bảy, vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước. Thứ tám, vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế tư nhân. Thứ chín, vi phạm pháp luật trong ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Chương II (có 7 điều, từ Điều 5 đến Điều 11) quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Theo đó, Chương này có 4 điều để quy định về chính sách xử lý hình sự gồm: 1) Không truy cứu trách nhiệm hình sự; 2) loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; 3) tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự và 4) miễn trách nhiệm hình sự.
Đối với từng chính sách hình sự, nghị quyết quy định các điều kiện cụ thể để áp dụng. Đồng thời, để thực hiện các chính sách hình sự này, Điều 9, Điều 10 dự thảo nghị quyết quy định về trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và trình tự, thủ tục trong thi hành án hình sự để thực hiện. Bên cạnh đó, để bảo đảm tương ứng với việc xử lý hình sự, Điều 11 dự thảo nghị quyết quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang tương ứng với các điều kiện về các chính sách xử lý hình sự quy định từ Điều 5 đến Điều 8 của nghị quyết này.
Chương III (có 2 điều, Điều 12 và Điều 13), quy định về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện. Nghị quyết này dự kiến được thực hiện trong 3 năm. Trường hợp sau thời điểm hết hiệu lực nhưng thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả vẫn còn thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi hết thời hạn này (không quá 2 năm).
Cũng theo Tờ trình tóm tắt dự án Nghị quyết, hồ sơ dự án Nghị quyết trình Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua tại Kỳ họp Chuyên đề về xây dựng pháp luật (tháng 8/2026).

Đề nghị rà soát kỹ để xác định rõ nội hàm của từng lĩnh vực, tránh phạm vi điều chỉnh quá rộng hoặc chưa thống nhất với các luật chuyên ngành
Theo Báo cáo tóm tắt Thẩm tra dự án Nghị quyết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính (KTTC) cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng; tạo cơ sở pháp lý để xử lý các vấn đề cấp thiết khi một số luật chưa được sửa đổi, bổ sung; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong xử lý các vụ việc, vụ án; khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không vụ lợi, không tham nhũng; qua đó nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục bám sát, thể chế hóa đầy đủ Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng; lượng hóa tiêu chí phân loại vi phạm, điều kiện áp dụng chính sách khoan hồng; thiết lập cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ, ngăn ngừa việc lợi dụng, bảo đảm nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Ủy ban Thường vj Quốc hội (UBTVQH) thống nhất Chính phủ trình Quốc hội Hồ sơ dự án Nghị quyết đã được báo cáo, trình UBTVQH tại phiên họp thứ 4 để trình Quốc hội xem xét cho ý kiến và quyết định tại Kỳ họp không thường lệ.
Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp không tham nhũng, vì lợi ích chung, hoạt động đã hoàn thành và có hiệu quả kinh tế - xã hội
Ủy ban KTTC cơ bản nhất trí với phạm vi điều chỉnh của dự thảo Nghị quyết quy định về cơ chế, chính sách đặc thù đối với các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tuy nhiên, đề nghị rà soát kỹ để xác định rõ nội hàm của từng lĩnh vực, tránh phạm vi điều chỉnh quá rộng hoặc chưa thống nhất với các luật chuyên ngành.

- Về không truy cứu trách nhiệm hình sự, đa số ý kiến tán thành áp dụng đối với trường hợp không tham nhũng, vì lợi ích chung, hoạt động đã hoàn thành và có hiệu quả kinh tế - xã hội, không còn khiếu nại, tố cáo, không gây thất thoát, lãng phí hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả. Tuy nhiên, đề nghị cân nhắc điều kiện “đã khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và xử lý tội phạm” để tránh thu hẹp chính sách khoan hồng và bảo đảm áp dụng thống nhất đối với các vi phạm tương tự.
- Về loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, gây thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đây là chính sách mới nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Đề nghị làm rõ đối tượng là người “gây thiệt hại” hay “gặp thiệt hại”; rà soát mối quan hệ với quy định của Bộ luật Hình sự về rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới; đồng thời, cụ thể hóa điều kiện, tiêu chí áp dụng, bảo đảm khách quan, minh bạch, không bị lợi dụng.
- Về tạm hoãn, miễn trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm 3 hình phạt, miễn chấp hành hình phạt tù và xử lý kỷ luật, đa số ý kiến tán thành các cơ chế hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, miễn, giảm hình phạt và xóa án tích. Tuy nhiên, cần xác định rõ loại hình phạt được áp dụng; lượng hóa tỷ lệ khắc phục hậu quả tối thiểu; quy định điều kiện đối với người tiếp tục khắc phục hậu quả trong quá trình thi hành án; rà soát thuật ngữ để thống nhất với Bộ luật Hình sự và pháp luật về thi hành án hình sự.

Đối với miễn trách nhiệm hình sự, việc khắc phục hậu quả là điều kiện quan trọng nhưng cũng cần xem xét đồng thời tính chất, mức độ hành vi, lỗi, động cơ, mục đích, Nhân thân, khả năng tái phạm và các yếu tố khác, tránh tạo cảm giác người có tiềm lực tài chính có thể dùng tiền để được miễn trách nhiệm hình sự, làm giảm tính răn đe và ảnh hưởng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Có ý kiến đề nghị nghiên cứu bổ sung cơ chế tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Về điều khoản thi hành và tổ chức thực hiện, Ủy ban cơ bản tán thành thời hạn thực hiện Nghị quyết là 3 năm, tạo khoảng thời gian thí điểm để tổ chức thực hiện, kiểm nghiệm và đánh giá chính sách.
Tuy nhiên, cần xác định rõ ngày có hiệu lực của Nghị quyết, các quy định chuyển tiếp để tránh chồng chéo hoặc khoảng trống pháp lý và mối quan hệ với Bộ luật Hình sự sửa đổi. Trường hợp các chính sách đã được luật hóa đầy đủ thì cần xử lý hiệu lực của Nghị quyết cho phù hợp. Đồng thời, đề nghị làm rõ phạm vi áp dụng đối với các vi phạm có yếu tố đất đai; bảo đảm không có khoảng trống giữa Nghị quyết này và Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội.