Câu chuyện vì thế không chỉ nằm ở việc một phép tính đúng hay sai.
Nó liên quan trực tiếp đến một chỉ số mà Bộ Giáo dục và Đào tạo sử dụng để đánh giá điều kiện bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục đại học.
Theo Tiêu chí 2.2, Tiêu chuẩn 2 về giảng viên của Chuẩn cơ sở giáo dục đại học ban hành kèm Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT, “tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động trên giảng viên toàn thời gian không thấp hơn 70%”.
Nói một cách dễ hiểu: cứ 100 giảng viên toàn thời gian thì cơ sở giáo dục phải có ít nhất 70 giảng viên cơ hữu đang trong độ tuổi lao động.
Và chính ở phép đối chiếu tưởng như rất đơn giản này, các Báo cáo thường niên của Trường Đại học CMC đặt ra những câu hỏi cần được giải đáp.

Báo cáo năm 2024: 82,05% từ đâu?
Tại trang 8 Báo cáo thường niên năm 2024, ở mục “Các chỉ số đánh giá về đội ngũ giảng viên toàn thời gian”, Trường Đại học CMC công bố:Tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động: 82,05%.
Tuy nhiên, ngay dưới bảng, Nhà trường còn ghi rõ các chỉ số này được xác định theo hướng dẫn tại Tiêu chuẩn 2 của Chuẩn cơ sở giáo dục đại học ban hành theo Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT. Nếu chỉ đọc đến đây, người đọc có thể hiểu rằng Trường Đại học CMC không những đáp ứng yêu cầu 70% mà còn vượt chuẩn hơn 12 điểm phần trăm.
Nhưng ngay ở bảng thống kê chi tiết tại trang tiếp theo, Báo cáo lại công bố: Giảng viên toàn thời gian: 105 người; Giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động: 64 người. Báo cáo đồng thời chú thích rằng các số liệu thống kê “bảo đảm thống nhất với quy định trong Chuẩn cơ sở giáo dục đại học được ban hành theo Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT”.
Nếu lấy chính hai số liệu này để tính: 64 : 105 × 100 = khoảng 60,95% chứ không phải 82,05%. Khoảng cách giữa hai tỷ lệ lên tới 21,10 điểm phần trăm.
Và đây là điểm đặc biệt quan trọng: 82,05% là trên ngưỡng chuẩn 70%, nhưng 60,95% lại dưới ngưỡng chuẩn 70%.
Như vậy, vấn đề không còn là một con số bị làm tròn sai vài phần trăm. Nếu 105 và 64 là những số liệu đúng, được xác định đúng theo các khái niệm của Thông tư 01, thì kết quả phép tính có thể làm thay đổi hoàn toàn cách đánh giá đối với Tiêu chí 2.2: từ đạt chuẩn thành chưa đạt ngưỡng 70%. Đó là lý do con số 82,05% cần được Trường Đại học CMC giải thích một cách rõ ràng.
Sang năm 2025, vấn đề tiếp tục lặp lại
Điều khiến câu chuyện trở nên đáng lưu ý hơn là sai sót tương tự không chỉ xuất hiện ở một năm. Qua đối chiếu Báo cáo thường niên năm 2025, Tạp chí ghi nhận Nhà trường công bố: 135 giảng viên toàn thời gian; 55 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động; nhưng tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động lại được công bố là 77,37%.
Nếu áp dụng trực tiếp cách tính theo Tiêu chí 2.2: 55 : 135 × 100 = khoảng 40,74% chứ không phải 77,37%. Khoảng chênh lần này lên tới 36,63 điểm phần trăm.
Và một lần nữa xuất hiện chính vấn đề của năm trước: 77,37% thể hiện Nhà trường đạt yêu cầu ≥70%. Nhưng 40,74% lại thấp hơn rất xa ngưỡng 70%.
Trường Đại học CMC hiện công khai cả Báo cáo thường niên năm 2024 và năm 2025 trong chuyên mục “Báo cáo ba công khai” trên website của Nhà trường.
Do vậy, đây không phải dữ liệu do một bên thứ ba tự xây dựng, mà là vấn đề phát sinh khi đối chiếu những con số được chính cơ sở giáo dục đưa ra công khai.

Hai năm, cùng một chỉ số, cùng một vấn đề
Nếu chỉ xảy ra một lần, có thể đặt giả thiết đây là lỗi nhập liệu hoặc lỗi kỹ thuật. Nhưng khi cùng chỉ số “tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động” xuất hiện sai lệch trong hai Báo cáo thường niên liên tiếp thì cần một lời giải thích thuyết phục hơn.
Năm 2024: Nhà trường công bố: 82,05%. Tính từ số liệu 64/105: khoảng 60,95%.
Năm 2025: Nhà trường công bố: 77,37%. Tính từ số liệu 55/135: khoảng 40,74%.
Điểm đáng chú ý nhất không phải chỉ là hai phép tính không khớp.
Điểm đáng chú ý nhất là trong cả hai năm, con số tỷ lệ được công bố đều đặt Trường Đại học CMC ở phía trên ngưỡng 70% của Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, còn kết quả tính trực tiếp từ chính số liệu thành phần lại đặt chỉ số ở phía dưới ngưỡng 70%. Đây chính là vấn đề cần cơ quan quản lý giáo dục kiểm tra.
Tỷ lệ 70% có ý nghĩa gì?
Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT không đưa ra con số 70% để tham khảo. Chuẩn cơ sở giáo dục đại học được sử dụng để đánh giá, giám sát điều kiện bảo đảm chất lượng và việc thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học.
Trong đó, Tiêu chuẩn 2 yêu cầu cơ sở giáo dục phải có đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu về số lượng, trình độ và quỹ thời gian nhằm bảo đảm chất lượng giảng dạy và nghiên cứu.
Việc yêu cầu ít nhất 70% giảng viên toàn thời gian là giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động có ý nghĩa rất thực tế. Một trường đại học muốn phát triển ổn định không thể phụ thuộc quá lớn vào lực lượng giảng viên thiếu tính ổn định hoặc không gắn bó lâu dài. Đội ngũ cơ hữu trong độ tuổi lao động chính là lực lượng trực tiếp tham gia giảng dạy, nghiên cứu, xây dựng chương trình, hướng dẫn người học, phát triển học thuật và duy trì tính liên tục của hoạt động đào tạo.
Do đó, tỷ lệ này phản ánh một phần năng lực nhân sự cốt lõi và mức độ ổn định của đội ngũ giảng viên. Khi tỷ lệ này thấp, trường có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào đội ngũ không cơ hữu hoặc lực lượng ngoài độ tuổi lao động; từ đó đặt ra câu hỏi về khả năng duy trì ổn định hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, xây dựng chương trình, hướng dẫn sinh viên và phát triển đội ngũ lâu dài. Chính Tiêu chuẩn 2 của Thông tư 01 được xây dựng với mục tiêu bảo đảm đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, trình độ và quỹ thời gian để bảo đảm chất lượng giảng dạy và nghiên cứu.
Với thí sinh và phụ huynh, đây cũng không phải một thông tin xa lạ với quyền lợi của mình. Khi lựa chọn trường, họ có quyền biết cơ sở đào tạo có đội ngũ giảng viên ổn định ở mức nào, đặc biệt khi đó là chỉ số đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
Cần Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm tra
Từ những dữ liệu trên, Tạp chí điện tử Nhân lực Nhân tài Việt cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo cần kiểm tra số liệu gốc và phương pháp xác định tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động của Trường Đại học CMC trong cả năm 2024 và năm 2025.
Việc kiểm tra cần làm rõ: số giảng viên toàn thời gian thực tế từng năm; số giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động; phương pháp tính tỷ lệ; nguyên nhân xuất hiện các con số 82,05% và 77,37%; và quan trọng nhất là Trường Đại học CMC thực tế có đáp ứng Tiêu chí 2.2 – tỷ lệ không thấp hơn 70% – trong từng năm hay không.
Nếu sai sót nằm ở Báo cáo thường niên, Nhà trường cần đính chính và công khai lại.
Nếu số liệu thành phần trong Báo cáo không chính xác, cũng cần giải thích và điều chỉnh.
Nếu có một cách tính khác dẫn tới 82,05% và 77,37%, cơ sở pháp lý và dữ liệu của cách tính đó cần được công khai để xã hội kiểm chứng.
Một trường đại học có thể có sai sót trong quá trình tổng hợp dữ liệu. Nhưng khi sai sót liên quan đến các số liệu để tính toán cùng một chỉ số trong hai năm liên tiếp thì việc giải trình không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cần thiết của trách nhiệm công khai và trách nhiệm giải trình.
Giảng viên và vấn đề quản trị nhân sự, nhân lực
Chỉ số “tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động trên tổng số giảng viên toàn thời gian” về bản chất không chỉ là một con số kỹ thuật trong Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, mà còn phản ánh trực tiếp năng lực quản trị nhân sự và phát triển nguồn nhân lực của một trường đại học.
Một cơ sở đào tạo muốn duy trì chất lượng bền vững phải chủ động xây dựng được đội ngũ giảng viên cơ hữu đủ lớn, có cơ cấu độ tuổi hợp lý, có khả năng làm việc ổn định, lâu dài và bảo đảm tính kế thừa. Vì vậy, tỷ lệ này liên quan trực tiếp đến hàng loạt vấn đề cốt lõi của quản trị nhân lực như hoạch định nhu cầu nhân sự, tuyển dụng, bố trí và sử dụng giảng viên, giữ chân nhân lực chất lượng cao, xây dựng đội ngũ kế cận, cân đối cơ cấu tuổi nghề và giảm sự phụ thuộc quá mức vào lực lượng thỉnh giảng hoặc nhân sự thiếu tính ổn định.
Ở góc độ quản trị, nếu tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động thấp, vấn đề đặt ra không đơn thuần là “thiếu người” mà còn có thể phản ánh những hạn chế trong chiến lược tuyển dụng, khả năng thu hút và giữ chân giảng viên, chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc, kế hoạch phát triển đội ngũ và năng lực dự báo nguồn nhân lực.
Ngược lại, một tỷ lệ ổn định, được duy trì bền vững cho thấy nhà trường có nền tảng nhân sự đủ sức bảo đảm liên tục hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên và phát triển chương trình đào tạo. Chính vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt ngưỡng không thấp hơn 70% không chỉ nhằm kiểm đếm số lượng giảng viên, mà còn hướng tới yêu cầu các trường phải xây dựng được một lực lượng nhân sự cốt lõi, ổn định và có khả năng phát triển lâu dài.