Từ Hội nghị Trung ương 8 và Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau”
Tiến sỹ sử học Phạm Minh Thế, Khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích: Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: Pháp chạy, Nhật hàng là yếu tố then chốt để Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Minh phát động Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền.

Việc dự đoán thời cơ và chuẩn bị các điều kiện đón bắt thời cơ đã được Đảng đưa ra từ rất sớm tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I, tháng 5/1941. Tại Hội nghị này, Trung ương Đảng nhận định, chiến tranh thế giới sẽ tạo ra những chuyển biến theo hướng Liên Xô và các nước Đồng minh đánh bại phát xít, khiến chính quyền phát xít Nhật lung lay.
Trung ương Đảng cũng nhận định, tạm thời Nhật và Pháp bắt tay với nhau, nhưng vì lợi ích, hai nước đế quốc này sẽ sớm nảy sinh mâu thuẫn. Khi Nhật - Pháp lao vào xung đột, giao tranh, sẽ tạo ra thời cơ cách mạng.
Hội nghị tháng 5/1941 khẳng định, cách mạng ở Đông Dương sẽ kết liễu bằng cuộc khởi nghĩa vũ trang (điều đã được Luận cương chính trị tháng 10/1930 của Đảng khẳng định) và chủ trương xúc tiến chuẩn bị các điều kiện để tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Hàng loạt An toàn khu (ATK), căn cứ địa cách mạng, chiến khu được xây dựng trên cả nước, lực lượng cách mạng được tập hợp rộng rãi.

Đến ngày 12/3/1945, trong bản Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", Thường vụ Trung ương Đảng nhận định 3 cơ hội tốt để phát động Tổng khởi nghĩa. Đó là: Chính trị khủng hoảng (quân thù không rảnh tay đối phó với cách mạng), nạn đói ghê gớm (quần chúng oán ghét quân cướp nước) và chiến tranh đến giai đoạn quyết liệt (Đồng minh sẽ đổ bộ vào Đông Dương đánh Nhật).
Chỉ thị ngày 12/3/1945 chủ trương phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, lấy khởi nghĩa từng phần ở từng địa phương làm hình thức vận động. Nhờ đó, nhiều địa phương chủ động nổi dậy giành chính quyền trước khi tổng khởi nghĩa nổ ra. Điều này chứng tỏ quân Nhật và tay sai đã bị nao núng, rệu rã, đồng thời tạo động lực to lớn để các địa phương khác đồng loạt nổi dậy giành lấy chính quyền khi Đảng và Mặt trận Việt Minh có mệnh lệnh.
Quyết định lịch sử trước khi Nhật hoàng chính thức tuyên bố đầu hàng
Đến cuối tháng Bảy, đầu tháng 8/1945, Chiến tranh thế giới thứ hai đi vào hồi kết. Phe phát xít thất bại hoàn toàn ở Châu Âu và bị đánh bại trên nhiều chiến trường ở Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là ở Trung Quốc. Việc Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima (ngày 6/8) và Nagasaki (ngày 9/8) làm tinh thần chiến đấu của quân Nhật sa sút nghiêm trọng, dẫn đến quyết định đầu hàng Đồng minh.
Lúc này, Đồng minh (Mỹ và Anh) hủy bỏ chủ trương thành lập chính quyền ủy nhiệm ở Đông Dương, chia Đông Dương thành hai nửa do Mỹ và Anh tiếp quản để giải giáp quân Nhật. Tiến sỹ Phạm Minh Thế chỉ ra, tình thế này đặt ra nguy cơ: Nếu ta không ngay lập tức chớp thời cơ phát động tổng khởi nghĩa giải phóng quốc gia dân tộc, giành lấy chính quyền trước khi Nhật hoàng chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minh, mà chờ Đồng minh vào đánh Nhật hay giải giáp vũ khí của Nhật thì sẽ không bao giờ giành được độc lập, tự do.

Tiến sỹ Phạm Minh Thế cho biết, hàng loạt diễn biến quyết định diễn ra dồn dập. Ngày 10/8/1945, Chính phủ Nhật Bản gửi thông cáo chấp nhận đầu hàng theo Tuyên bố Potsdam. Thông tin Nhật sẽ đầu hàng Đồng Minh lan đến Việt Nam. Ngày 12/8/1945, Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh họp đánh giá tình hình, quyết định phát động tổng khởi nghĩa và triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng vào ngày 13/8/1945 để thống nhất kế hoạch tổng khởi nghĩa.
Hội nghị này đã thống nhất quyết định phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền, thành lập Ủy ban khởi nghĩa để lãnh đạo. 23h00 đêm 13/8/1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp ký bản Quân lệnh số 1, ra lệnh cho chiến sĩ, đồng bào đánh vào các đô thị và trọng trấn của địch. Ngày 15/8/1945, Nhật hoàng mới chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện.
“Như thế, ta đã phát động Tổng khởi nghĩa trước khi Nhật đầu hàng chính thức Đồng Minh”, TS Phạm Minh Thế nhấn mạnh.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã hoàn thành một bước hết sức cơ bản trong sự nghiệp giải phóng con người ở Việt Nam khỏi mọi sự áp bức về mặt dân tộc, sự bóc lột về mặt giai cấp và sự nô dịch về mặt tinh thần. Dưới chế độ mới sau Cách mạng Tháng Tám 1945, người dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được hưởng những quyền tự do dân chủ đầu tiên như quyền tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc, quyền bầu cử và ứng cử, quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra, quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, quyền tư hữu tài sản, quyền học tập, quyền tự do ngôn luận, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài…
Chủ động tạo thời cơ, xóa bỏ luận điệu "ăn may" hay "khoảng trống quyền lực"
Lịch sử thường nói về cơ hội "ngàn năm có một", nhưng nếu Việt Minh không hành động quyết đoán trong đúng "15 ngày vàng" (từ khi Nhật hàng Đồng minh đến trước khi lực lượng Đồng minh kéo vào), kịch bản lịch sử của Việt Nam sẽ bị lái sang hướng nguy hiểm khác.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ: Thế nào thực dân Pháp cũng quay trở lại xâm lược nước ta thêm một lần nữa. Chừng nào chúng chưa thua đau trên chiến trường Đông Dương thì chúng còn chưa từ bỏ ý định xâm lược. Đồng thời, việc Anh và Mỹ thỏa thuận chia đôi Đông Dương cho thấy rõ ý đồ muốn xâu xé, chia cắt Đông Dương thành những vùng thuộc địa kiểu mới.
Tiến sỹ Phạm Minh Thế đặt vấn đề: Ở thời điểm đó, không chỉ có Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh tồn tại. Vẫn còn nội các chính phủ Trần Trọng Kim, bộ máy chính quyền tay sai cùng lực lượng vũ trang của họ, các tổ chức vũ trang tôn giáo và nhiều đảng phái chính trị khác. Tuy nhiên, họ không thể đứng lên lãnh đạo đồng bào giành lấy chính quyền, mà chỉ có Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh phát động được cuộc khởi nghĩa và được đông đảo đồng bào cả nước hưởng ứng.

Khẳng định về bản chất của thắng lợi, Tiến sỹ Phạm Minh Thế nhấn mạnh: Không có sự "ăn may" hay "khoảng trống quyền lực" nào được tạo ra khi Nhật đầu hàng Đồng minh. Đây là sự chủ động tạo thời cơ, chuẩn bị lực lượng, điều kiện, sự nhạy bén về đoán định thời cơ và tổ chức chớp thời cơ kịp thời, đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương, Mặt trận Việt Minh và cá nhân lãnh tụ Hồ Chí Minh, thúc đẩy thời cơ cách mạng đến nhanh hơn, sớm hơn, chứ không thụ động, trông chờ vào sự giúp đỡ từ bên ngoài hay một cơ may nào khác. Yếu tố quan trọng hơn cả là sự tin tưởng, ủng hộ, tham gia của quốc dân đồng bào cả nước.
"Việc Đảng Cộng sản Đông Dương, Mặt trận Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh quyết định phát động Tổng khởi nghĩa là một quyết định đúng đắn, kịp thời, nhạy bén và sáng tạo. Điều này đã tạo nên thắng lợi to lớn, vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - một cuộc cách mạng long trời lở đất, có ý nghĩa và tầm vóc quốc tế, đưa đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của Nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc trên thế giới, làm sụp đổ mang tính hệ thống của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ", Tiến sỹ Phạm Minh Thế khẳng định.
Kỳ tích mang tầm thời đại
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”, chúng ta tự hào về năng lực lãnh đạo của Đảng ta, một đảng ra đời ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến nhưng đã trở thành đảng lãnh đạo chính quyền và toàn xã hội, thực sự là một tổ chức chính trị tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, chiến đấu quên mình vì lợi ích thiết tha nhất, thiêng liêng nhất của dân tộc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc cách mạng của chúng ta đã thực hiện được một kỳ tích mang tầm thời đại: Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Thứ nhất, Cách mạng Tháng Tám đã nêu cao tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam, khi mà chúng ta phải đối diện với thực dân Pháp - một trong số các quốc gia tư bản chủ nghĩa phát triển bậc nhất vào thế kỷ XIX, XX; phải đương đầu với chủ nghĩa phát-xít và lực lượng đồng minh, những thế lực đang chi phối đời sống chính trị quốc tế lúc đó. Lần đầu tiên một dân tộc đã tự lực tự cường, đứng lên làm cách mạng để giành lấy những quyền dân tộc cơ bản nhất của mình, mà không phải do ai ban cho, từ trong tay hệ thống thuộc địa lâu đời của chủ nghĩa thực dân Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thành công khi khơi dậy được nguồn lực mạnh mẽ nhất của dân tộc - chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam và lợi ích của các giai tầng, của mỗi con người là thống nhất với lợi ích dân tộc. Để từ đó tập hợp hết thảy các lực lượng yêu nước, đoàn kết toàn thể nhân dân Việt Nam tạo thành một lực lượng cách mạng vô cùng to lớn làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, thiết lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tiêu chí Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Thứ hai, Cách mạng Tháng Tám đã thay đổi số phận của cả dân tộc Việt Nam khi đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, giải quyết thành công vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền. Cuộc cách mạng này đã chứng minh tính đúng đắn của những luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng thuộc địa, về tính chủ động của cách mạng thuộc địa, về cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới mà Người đã nghiên cứu, đã chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam từ những năm 20 của thế kỷ XX.
Với Người, một cuộc cách mạng thành công, cách mạng “đến nơi”, nghĩa là: “cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người” và dân chúng phải “được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật...”.

Chính vì vậy, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, dù gặp muôn vàn khó khăn thử thách, song Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời đã kiên quyết thực hiện tư tưởng quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân, xúc tiến tổ chức Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Khác với các hình thức Nhà nước của phong kiến, thực dân đã từng tồn tại ở Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, “tất cả mọi quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”. Trong Nhà nước đó, cán bộ, công chức là “công bộc”, đầy tớ cho Nhân dân chứ không phải đè đầu, cưỡi cổ dân như dưới thời Pháp, Nhật.
Không chỉ phải làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành, Đảng và Nhà nước đó còn phải yêu dân, kính dân và quán triệt yêu cầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đề nghị: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, “phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết”.
Thứ ba, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã đưa Nhân dân Việt Nam từ thân phận người nô lệ, bị áp bức, bóc lột trở thành người làm chủ, tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình. Đây là một cuộc đổi đời chưa từng có trong lịch sử đối với mỗi người dân Việt Nam.

Những quyền bình đẳng, dân chủ này được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đều là những điều chưa từng có trong các mối quan hệ xã hội và kinh tế của xã hội phong kiến Việt Nam trước đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cách mạng là “...một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ”, trong đó “những thắng lợi mà chúng ta đã đạt được mới chỉ là bước đầu trên đường đi muôn dặm”[4].
Từ bước ngoặt vĩ đại mà cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa thu năm 1945 tạo nên đã khơi nguồn, bồi đắp sức mạnh cho toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta vững bước trên chặng đường mới, viết tiếp những trang sử hào hùng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày hôm nay.
Đó cũng chính là cơ sở để Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021) khẳng định tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn mới là “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên cường đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.