Tái cấu trúc hệ thống đại học để tập trung nguồn lực, nhân lực hướng tới chuẩn quốc tế

Việc tái cấu trúc và sáp nhập hệ thống trường đại học, nếu thực hiện bài bản, có đánh giá tác động và đảm bảo quyền lợi người học, người làm, sẽ tạo điều kiện tập trung nguồn lực, tinh giản bộ máy và nâng cao hiệu quả đầu tư công, từ đó thúc đẩy sự ra đời của những trung tâm đại học đa ngành, lan tỏa học thuật và công nghệ.

Nhiều năm qua, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam phát triển nhanh nhưng còn phân tán, manh mún, quy mô nhỏ và trùng lặp ngành nghề. Thực trạng này khiến nguồn lực bị chia cắt, khó hình thành các đại học mạnh có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế. Phân tích rõ thực trạng này, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nguyên Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Công nghệ (ĐHQGHN) cho rằng, việc phân tán nguồn lực đã làm giảm cơ hội hình thành các đại học mũi nhọn, có vị thế trên bản đồ học thuật quốc tế.

untitled-1766452300.png
Tái cấu trúc hệ thống đại học để tập trung nguồn lực, nhân lực hướng tới chuẩn quốc tế. Ảnh minh họa, nguồn FPT.

Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, việc sáp nhập đại học không chỉ là giải pháp về mô hình tổ chức mà còn là một quá trình chuyển đổi chiến lược, hướng đến nâng cao năng lực tri thức, chất lượng đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và hiệu quả nguồn lực. Ông khẳng định, từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Đức hay các nước Bắc Âu, Việt Nam có thể rút ra 5 bài học quan trọng có giá trị tham khảo trực tiếp.

Khi có tầm nhìn và tự chủ, việc sáp nhập mới đi đường dài

Trước hết, nhiều quốc gia chỉ tiến hành sáp nhập trong khuôn khổ chiến lược quốc gia, gắn với tầm nhìn dài hạn về vai trò của đại học trong nền kinh tế tri thức.

Lấy ví dụ, GS Đức nhắc lại việc Nhật Bản tái cấu trúc hệ thống trường công vào đầu những năm 2000, hướng tới xây dựng các đại học quốc gia mạnh, tự chủ và cạnh tranh toàn cầu. Từ đó có thể thấy, Việt Nam cũng cần quy hoạch tổng thể, định vị rõ sứ mệnh của mỗi cơ sở sau sáp nhập và phân tầng trong toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, tự chủ và minh bạch được xem là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công. Kinh nghiệm Hàn Quốc, Phần Lan cho thấy, sáp nhập chỉ phát huy hiệu quả khi các trường được trao quyền tự chủ về học thuật và tài chính, có quyền định hình mô hình quản trị, tuyển dụng, phát triển chương trình và mở rộng hợp tác doanh nghiệp.

GS Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, nếu tự chủ không đi cùng sáp nhập, quá trình hợp nhất rất dễ rơi vào hình thức hoặc tạo thêm gánh nặng cơ chế. Ông phân tích thêm, việc duy trì vai trò của Hội đồng trường như trong Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018 là điểm mấu chốt nhằm kiểm soát quyền lực và thúc đẩy đổi mới. Do đó, sáp nhập phải song hành với tự chủ thực chất, toàn diện và sâu sắc.

Hợp sức về học thuật để trường có thêm sức bật

Không ít quốc gia từng gặp thất bại vì sáp nhập "trên giấy", chỉ hợp nhất bộ máy nhưng không tạo ra giá trị học thuật. Theo phân tích của GS Nguyễn Đình Đức, bài học từ Pháp và Đức cho thấy "Đại học tổng hợp" chỉ thành công khi sự hợp nhất đi vào chiều sâu học thuật, bao gồm chia sẻ phòng thí nghiệm, tài nguyên nghiên cứu và xây dựng chương trình liên ngành. Việt Nam cần ưu tiên mục tiêu này: sáp nhập phải tạo ra năng lực học thuật mới, gia tăng sức mạnh nghiên cứu, chứ không chỉ biến đổi cơ cấu hành chính.

top-10-truong-dai-hoc-viet-nam-hang-dau-1-1766449087.png
Bảng xếp hạng trường Đại Học Việt Nam 2026. Ảnh internet.

Cùng với đó, tôn trọng văn hóa và con người cũng là yếu tố quyết định. Nhật Bản cho rằng, sáp nhập các trường có truyền thống khác nhau không thể thực hiện bằng mệnh lệnh hành chính.

Lấy ví dụ từ mô hình Nhật Bản, GS Nguyễn Đình Đức cho biết, quốc gia này đã áp dụng lộ trình mềm, khuyến khích giảng viên, sinh viên và công đoàn tham gia vào quá trình, từ đó giữ vững bản sắc và tạo dựng môi trường học thuật đa văn hóa. Việt Nam, theo ông, cần quản trị sự thay đổi bằng đối thoại, minh bạch và đồng thuận.

Cuối cùng, các nước châu Âu đều coi kiểm định chất lượng và năng lực nghiên cứu là thước đo đánh giá sau sáp nhập. Các đại học như Aalto University (Phần Lan) hay Université Paris-Saclay (Pháp) nhanh chóng vươn lên thứ hạng cao nhờ tập trung đổi mới sáng tạo và liên kết doanh nghiệp. GS khẳng định, Việt Nam cũng cần xây dựng cơ chế đánh giá dựa trên chất lượng đào tạo và nghiên cứu, thay vì chỉ dựa vào quy mô hay số lượng đơn vị hợp nhất.

GS Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, nếu được triển khai thận trọng, đúng lộ trình, sáp nhập đại học sẽ góp phần tinh gọn hệ thống, phát huy tự chủ, gia tăng hiệu quả đầu tư và tạo nền tảng hình thành các đại học mạnh, hội nhập quốc tế, trở thành trụ cột trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Ông nhấn mạnh thêm rằng đây là cơ hội quan trọng để Việt Nam bứt phá, hình thành những đại học thực sự có tầm khu vực và quốc tế.

Cơ hội tái cấu trúc để đại học Việt Nam mạnh và tinh gọn

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn nhấn mạnh, Nghị quyết 71 xác định trọng tâm tập trung cho giáo dục đại học, trong đó nhiệm vụ quan trọng bậc nhất là hiện đại hóa các trường đại học. Mục tiêu là phát triển các cơ sở đại học với tốc độ nhanh, mạnh, định hướng rõ ràng hơn, tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực mà đất nước đang cần. Bộ trưởng Sơn nhận định, giáo dục đại học đang đứng trước cơ hội đặc biệt để giáo dục đại học bứt phá và phát triển.

Theo Bộ trưởng Kim Sơn ngành giáo dục, ngành chuẩn bị bước vào một “cuộc đại sắp xếp” các cơ sở giáo dục đại học. Nghị quyết 71 yêu cầu sắp xếp, tái cấu trúc các trường đại học, sáp nhập hoặc giải thể những trường không đạt chuẩn, xóa bỏ cấp trung gian, nghiên cứu sáp nhập các viện nghiên cứu với trường đại học, đồng thời chuyển một số trường về quản lý địa phương. Trừ các trường khối công an, quân đội và ngoài công lập, khoảng 140 trường công lập rải rác thuộc các bộ, ngành Trung ương và địa phương sẽ được sắp xếp lại.

Các trường “gần nhau” về lĩnh vực sẽ được sắp xếp nhằm khắc phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, không phát triển được. “Tinh thần là giảm rất nhiều đầu mối và tập trung để các trường mạnh lên, tốt hơn, chứ không phải chỉ để giảm đầu mối cho xong”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Trên thực tế, hiệu quả của việc sắp xếp, tinh gọn và tập trung nguồn lực đã được kiểm chứng qua những mô hình đại học quy mô lớn. Cuối năm 2024, Đại học Quốc gia TP. HCM và Đại học Quốc gia Hà Nội đã triển khai việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng quyền tự chủ, qua đó ghi nhận những kết quả tích cực ban đầu. Lãnh đạo hai đại học quốc gia khẳng định, chính mô hình đại học đa ngành, quy mô lớn đã giúp các đơn vị chuyển mình từ những cơ sở rời rạc thành những trung tâm đào tạo – nghiên cứu có uy tín quốc tế, sở hữu nhiều chương trình đạt chuẩn và năng lực nghiên cứu mạnh. Việc tinh gọn tổ chức lần này nhằm tập trung tối đa nguồn lực, từ con người đến hạ tầng, đồng thời mở rộng cơ hội được Nhà nước đầu tư để tiếp tục vươn tầm.

Thực tế, mô hình này đã phát huy hiệu quả từ rất sớm. Đại học Quốc gia TP. HCM được thành lập năm 1995 trên cơ sở sáp nhập nhiều cơ sở giáo dục đại học, với 9 đơn vị thành viên ban đầu, trở thành minh chứng rõ nét cho hiệu quả của việc “gom để lớn”. Đây cũng là mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực, hình thành nên hệ thống đại học công lập lớn nhất khu vực phía Nam.

Tương tự, tại phía Bắc, quá trình tổ chức lại để hình thành Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng, đưa các cơ sở đào tạo đơn ngành rời rạc hợp nhất thành một đại học tổng hợp, tinh gọn, tự chủ và từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

874af3a002688cc3165625053a9045fc-top-truong-100-dai-hoc-hang-dau-tai-viet-nam-1766449133.jpg
Tái cấu trúc hệ thống đại học để tập trung nguồn lực, nhân lực hướng tới chuẩn quốc tế. Ảnh minh họa, nguồn internet.

Tái cấu trúc để tránh chồng chéo về chức năng, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh và lãng phí nguồn lực

Tiến sĩ Lê Viết Khuyến, Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường Đại học, cao đẳng Việt Nam, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học khẳng định: Việc sắp xếp, sáp nhập đại học là chủ trương đúng và trúng trong bối cảnh hiện nay. Việt Nam có hàng trăm cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng, song phần lớn có quy mô nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, chất lượng đào tạo và nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Nhiều trường được nâng cấp từ cao đẳng nhưng thiếu nền tảng quản trị hiện đại, chồng chéo về chức năng, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh và lãng phí nguồn lực. Hệ quả là khó hình thành những “đầu tàu” đại học vững mạnh, đồng thời lãng phí ngân sách, cơ sở vật chất và cơ hội hợp tác quốc tế.

Nhiều chuyên gia giáo dục cũng cho rằng, sáp nhập đi đôi với thiết lập cơ chế quản trị mới, bảo đảm lợi ích chung sẽ giúp Đại học Việt Nam thoát khỏi tình trạng phân tán, manh mún, tiến gần hơn tới chuẩn mực quốc tế, đồng thời tối ưu nguồn lực, thương hiệu và chất lượng đào tạo.

Đề án sắp xếp xác định nguyên tắc, tiêu chí, triển khai công khai, minh bạch, bảo đảm quyền lợi người học, tạo điều kiện phát huy sáng tạo và tham gia các chương trình quốc tế, hướng tới hệ thống đại học công lập tinh gọn, mạnh hơn, tiến gần hơn tới chuẩn mực quốc tế.

Phân tích về định hướng này, GS. TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước, đại biểu Quốc hội khóa XV cho rằng, việc sáp nhập các trường đại học phải xuất phát từ nhu cầu phát triển thực chất và bền vững, tuân thủ các nguyên tắc lợi ích công, tôn trọng tự chủ, minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời được thực hiện theo lộ trình phù hợp.

Hiện, Bộ GD&ĐT đang hoàn thiện phương án sắp xếp hệ thống đại học công lập trình Chính phủ phê duyệt với lộ trình ba giai đoạn. Cụ thể, giai đoạn 2025 - 2027 sẽ thí điểm sáp nhập tại một số địa phương có điều kiện như: Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ; giai đoạn 2028 - 2030 nhân rộng mô hình các đại học hùng mạnh, đóng vai trò dẫn dắt đào tạo, nghiên cứu và công nghệ; sau năm 2030, hệ thống đại học công lập sẽ được hoàn thiện, đưa tổng số trường về khoảng 100, bảo đảm tránh sáp nhập cơ học, giảm đầu mối nhưng không nâng cao chất lượng.

Theo Giáo sư Văn Cường sáp nhập chỉ hiệu quả khi đáp ứng ba yếu tố then chốt: xác định rõ thế mạnh và điểm yếu của từng trường; thiết lập cơ chế quản lý phù hợp; và bảo đảm quá trình hòa nhập văn hóa, lợi ích chung. Chỉ khi hội đủ các điều kiện này, việc gom các trường nhỏ, yếu vào trường lớn mới tạo ra đột phá về chất lượng và năng lực cạnh tranh. Đây cũng là điều kiện để tối ưu hóa nguồn lực, từ cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, sinh viên đến hoạt động nghiên cứu và hạ tầng, qua đó xây dựng các thương hiệu quốc gia trong giáo dục đại học có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Xây đại học quốc gia “đầu tàu”: Giải pháp then chốt

Cùng quan điểm, TS Lê Viết Khuyến cho rằng mục tiêu của sáp nhập không phải là cắt giảm số lượng cho “đẹp sổ sách” mà là cơ hội nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học, hình thành những trung tâm đại học mạnh, tinh gọn, đủ năng lực đào tạo nhân lực chất lượng cao và phát triển nghiên cứu liên ngành. Theo ông, Việt Nam chỉ có thể tiến lên khi hệ thống có ít trường hơn nhưng mỗi trường đều mạnh. Thực tiễn cho thấy, các mô hình đại học quốc gia và đại học vùng trước đây đã chứng minh hiệu quả rõ rệt: những đơn vị được hợp nhất và tổ chức theo mô hình đại học đa lĩnh vực thường phát triển nhanh và bền vững hơn.

Từ đó, GS Hoàng Văn Cường đề xuất sắp xếp lại hệ thống theo mô hình “tập đoàn giáo dục”. Theo mô hình này, các trường địa phương đóng vai trò nền tảng đào tạo đại trà, trong khi các trường trung ương tập trung đội ngũ giảng viên giỏi, sinh viên tinh hoa và nghiên cứu tầm quốc tế. Cách tổ chức này giúp tiết kiệm và tập trung nguồn lực, tránh tình trạng “lớn mà loãng, đông mà yếu”, đồng thời bảo đảm quyền lợi của giảng viên, sinh viên và sự phát triển bền vững của toàn hệ thống.

Giải pháp sáp nhập theo mô hình tập đoàn, trong đó trường địa phương đào tạo theo chuẩn và chịu sự giám sát của trường Trung ương, còn trường Trung ương quy tụ nhân lực và nghiên cứu đỉnh cao sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, uy tín quốc gia, đồng thời tương đồng với cách vận hành của các hệ thống đại học danh tiếng trên thế giới như Đại học California hay Đại học Quốc gia Singapore.

Nguyên Thảo (t/h)