Nâng cao nguồn lực để ngành chè xác lập vị thế mới trong chuỗi giá trị toàn cầu

Giai đoạn 2026–2030 là thời điểm bản lề để ngành chè Việt Nam bước ra khỏi "vùng an toàn" của xuất khẩu thô, xác lập vị thế mới trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Nguồn lực cho xuất khẩu chè

Theo các chuyên gia, nguồn lực chính cho xuất khẩu chè gồm: Vùng nguyên liệu tự nhiên; Công nghệ chế biến và sản phẩm; Quản lý chất lượng và số hóa; Cần xây dựng thương hiệu quốc gia của chè bên cạnh xây dựng câu chuyện văn hóa, chỉ dẫn địa lý để nâng cao giá trị, thay đổi từ xuất khẩu thô sang sản phẩm chất lượng cao.

dcbe471c590547d4994d60704e2c3800-69993-1772325804.jpg
Chè Shan Tuyết phù hợp với phân khúc chè cao cấp và hữu cơ. Ảnh internnet.

Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Bình, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Miền núi phía Bắc cho rằng, bên cạnh vùng nguyên liệu thì công nghệ chế biến trong nước đang dần được nâng cấp, mở ra khả năng đa dạng hóa sản phẩm từ chè xanh, chè đen, Ô long đến Matcha, trà thảo mộc hay các dòng trà cao cấp. Bởi vậy, nguồn lực công nghệ và chế biến tác động lớn đến giá trị chè xuất khẩu.

Hiện Việt Nam duy trì vị trí thứ năm thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè, với vùng nguyên liệu trải dài từ trung du miền núi phía Bắc đến Tây Nguyên. Các trung tâm sản xuất lớn tập trung tại Thái Nguyên, Phú Thọ, Lâm Đồng và một số tỉnh miền núi phía Bắc.

Năm 2025, xuất khẩu chè đạt 136.952 tấn, kim ngạch gần 238 triệu USD, giảm 7,07% về lượng và 0,72% về giá trị so với năm 2024. Tuy nhiên, tháng 1/2026 ghi nhận tín hiệu phục hồi tích cực khi xuất khẩu tăng 28% về lượng và 27% về trị giá, kim ngạch gần 21 triệu USD.

Giá xuất khẩu bình quân của chè Việt Nam hiện chỉ dao động 1.644–1.737 USD/tấn, tương đương 55–65% mức bình quân thế giới (khoảng 2.600 USD/tấn năm 2023). So với các quốc gia định vị thành công phân khúc cao cấp như Sri Lanka hay Kenya, mức chênh lệch giá còn rất lớn. Điều này cho thấy dư địa nâng giá trị gia tăng vẫn còn rộng mở nếu ngành chè cải thiện cấu trúc sản phẩm và chiến lược thị trường.

Việc tăng năng suất giúp duy trì nguồn cung ổn định cho chế biến và xuất khẩu, nhưng cũng đặt ra thách thức về kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRL) khi thị trường cao cấp siết chặt tiêu chuẩn.

Quy mô nông hộ trung bình chỉ khoảng 0,2 ha/hộ khiến liên kết chuỗi còn lỏng lẻo, khó triển khai chứng nhận Organic, VietGAP, GlobalGAP hay Rainforest Alliance do chi phí kiểm toán cao. Chỉ khoảng 10% nhà máy có vùng nguyên liệu tự chủ hoặc liên kết chặt chẽ, dẫn tới chất lượng đầu vào chưa ổn định.

f51c7b4c92d240a3ae0e9839894339a9-59427-1772325896.jpg
Nâng cao nguồn lực để ngành chè xác lập vị thế mới trong chuỗi giá trị toàn cầu. Ảnh minh họa, nguồn internet. ↵

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường phân tích: Trong bối cảnh các thị trường như EU và Bắc Mỹ yêu cầu minh bạch nguồn gốc và phát thải thấp, việc tái cấu trúc tổ chức sản xuất theo mô hình hợp tác xã quy mô lớn, hợp đồng bao tiêu dài hạn và nền tảng số truy xuất nguồn gốc trở thành điều kiện tiên quyết.

Ngành chè toàn cầu đang dịch chuyển mạnh sang khâu chế biến sâu, thiết kế bao bì và xây dựng câu chuyện thương hiệu. Trà không chỉ là đồ uống truyền thống mà được tái định nghĩa như sản phẩm hỗ trợ sức khỏe, giàu polyphenol, catechin, L-theanine.

Phân khúc trà thảo mộc, trà phối trộn ghi nhận tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) khoảng 8,1%. Thị trường trà đóng chai sẵn (RTD) được dự báo đạt 70,85 tỷ USD vào năm 2034, với tốc độ tăng trưởng 5,9% mỗi năm. Đây là dư địa lớn cho các sản phẩm chiết xuất, bột hòa tan và tinh chất trà.

Hiện, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc tới 94% vào chè xanh sao sấy phổ thông, khiến biên lợi nhuận thấp. Định hướng mới cần ưu tiên đầu tư công nghệ chiết xuất, sấy phun, cô đặc chân không, kiểm soát vi khí hậu bằng IoT và chuẩn hóa chuỗi lạnh.

"Ngành chè cần phát triển danh mục sản phẩm mới như: Bạch trà, hồng trà, trà lên men và kombucha nền trà Việt, gắn với câu chuyện văn hóa và đặc sản vùng miền", PGS.TS Nguyễn Đình Thọ nhấn mạnh.

Thị trường xuất khẩu

Cơ cấu thị trường xuất khẩu chè Việt Nam từng phụ thuộc lớn vào Pakistan. Khi nước này giảm nhập khẩu năm 2025 do khó khăn ngoại tệ và logistics, tỷ trọng nhập khẩu từ Việt Nam giảm mạnh.

Doanh nghiệp đã linh hoạt xoay trục sang Iraq (tăng 51% về lượng năm 2025), Philippines (tăng trên 500% về lượng trong tháng 1/2026), Nga, Ấn Độ, Ba Lan và Thái Lan. Thái Lan hiện chiếm 34,24% thị phần lượng nhập khẩu chè từ Việt Nam nhờ phù hợp với thị hiếu trà xanh pha lạnh.

Mục tiêu xuất khẩu chè năm 2026 không chỉ là duy trì sản lượng 1,2–1,4 triệu tấn búp tươi, mà quan trọng hơn là nâng giá trị trên mỗi tấn chè xuất khẩu. Khi mỗi lô hàng tích hợp truy xuất số, chứng nhận bền vững và câu chuyện di sản, chè Việt Nam có thể chuyển dịch từ cung ứng nguyên liệu giá rẻ sang kiến tạo giá trị cao.

Các hiệp định thương mại tự do như EVFTA và CPTPP tạo điều kiện tiếp cận thị trường cao cấp, song cũng đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn bền vững và truy xuất nguồn gốc.

Xu hướng tiêu dùng xanh, công bằng và phát thải thấp đang thiết lập "luật chơi" mới. Các chứng nhận Rainforest Alliance, Fairtrade, Organic trở thành điều kiện để vào kệ hàng tại EU và Bắc Mỹ.

Trong bối cảnh đó, sản xuất hữu cơ được xem là tương lai tất yếu của ngành chè Việt Nam. Việc phát triển vùng chè hữu cơ không chỉ nâng giá bán mà còn giúp nâng hình ảnh thương hiệu quốc gia.

Đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin, chiến lược phát triển chè đến 2030 cần tập trung vào bốn trụ cột: Nâng chuẩn chất lượng và bền vững: mã số vùng trồng, truy xuất số hóa, chứng nhận nhóm; Đầu tư chế biến sâu: tăng tỷ trọng sản phẩm tinh chế, RTD, trà chức năng; Đa dạng hóa thị trường: Giảm lệ thuộc vào một vài thị trường trung cấp; Xây dựng thương hiệu quốc gia cho chè Việt Nam.

Châu Anh (t/h)