Giai đoạn 2021-2025, cả nước triển khai 42 chương trình với khoảng 4.800 nhiệm vụ nghiên cứu, sử dụng khoảng 17.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, số kết quả được chuyển hóa thành sản phẩm trên thị trường còn hạn chế. Trong tổng số 1.451 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia được thống kê, doanh nghiệp chủ trì 181 nhiệm vụ, chiếm 12,5% số nhiệm vụ và 25,7% tổng kinh phí.
Những số liệu được nêu tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ ngày 23/10/2026 cho thấy yêu cầu đổi mới cách tổ chức nghiên cứu. Sự gắn kết cần được hình thành từ lúc xác định nhu cầu, lựa chọn giải pháp và tiếp tục trong quá trình thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm.
Bắt đầu từ bài toán của doanh nghiệp
Công ty cổ phần Tập đoàn Ô tô Hiệp Hòa đã phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu, phát triển xe thang chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ có tầm vươn 32 m và 56 m. Đây là những sản phẩm chuyên dùng, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao và gắn với nhu cầu bảo đảm an toàn trong thực tế.

Từ quá trình đầu tư, Chủ tịch HĐQT Đào Mạnh Hùng đặt ra vấn đề về thị trường tiếp nhận. Doanh nghiệp có thể bố trí máy móc, thiết bị, nhân lực và cùng nhà trường nghiên cứu, nhưng sẽ khó duy trì đầu tư nếu thiếu đơn vị đặt hàng. Theo ông, sản phẩm trong nước còn gặp bất lợi khi một số chủ đầu tư có xu hướng ưu tiên thiết bị nhập khẩu.
Câu chuyện này cho thấy nhu cầu sử dụng, tiêu chuẩn kỹ thuật, giá thành và khả năng bảo trì cần được tính toán ngay khi hình thành nhiệm vụ nghiên cứu. Đó cũng là cơ sở để doanh nghiệp cân nhắc nguồn lực, đánh giá rủi ro và quyết định tham gia.
Theo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy, cần phân biệt doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển, cung cấp công nghệ với doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng công nghệ. Kết nối cả hai nhóm với nhà khoa học sẽ giúp xác định rõ sản phẩm cần làm và nơi có khả năng tiếp nhận.

Ông cho rằng nhà khoa học cần trực tiếp đến doanh nghiệp, tìm hiểu quy trình sản xuất và những vướng mắc đang đặt ra, thậm chí làm việc như một kỹ sư, người lao động. Từ hiểu biết đó, các bên mới có thể xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu chung. Bộ phận trực tiếp sản xuất, kinh doanh cũng cần tham gia hợp tác để làm rõ yêu cầu về tính năng, chi phí và điều kiện vận hành.
Khoảng cách giữa cung và cầu còn thể hiện qua hoạt động của các sàn giao dịch công nghệ. Theo số liệu được tổng hợp, đến ngày 22/8/2026, các sàn có 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ ghi nhận 750 nhu cầu tìm mua. Trong tám tháng đầu năm, 72 giao dịch thành công được báo cáo, với tổng giá trị 11,233 tỷ đồng. Đây là số liệu trong phạm vi báo cáo của các sàn, chưa phản ánh toàn bộ giao dịch công nghệ trên thị trường.
Để cải thiện hiệu quả kết nối, hoạt động giới thiệu công nghệ cần đi kèm tư vấn, định giá, thử nghiệm và hỗ trợ ứng dụng. Một kết quả nghiên cứu có triển vọng vẫn cần dữ liệu vận hành, chứng nhận chất lượng và phương án triển khai phù hợp trước khi doanh nghiệp quyết định tiếp nhận.
Phân định trách nhiệm và chia sẻ lợi ích
Kinh nghiệm hợp tác của Viettel cho thấy mỗi bên cần đảm nhiệm công việc phù hợp với năng lực. Theo đại diện tập đoàn, Nhà nước định hướng, xác định nhu cầu và đặt hàng đầu ra; doanh nghiệp phát triển sản phẩm, thiết kế, tích hợp và hoàn thiện hệ thống; viện, trường nghiên cứu công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ thành phần và đào tạo nhân lực.

Viettel đã hợp tác với nhiều học viện, viện nghiên cứu, trường đại học trong nghiên cứu, đào tạo và chia sẻ hạ tầng thí nghiệm. Năm 2026, Viettel và Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã bàn giao, ứng dụng kết quả ba nhiệm vụ gồm trợ lý lập trình CoDev, mô hình ngôn ngữ viễn thông TelcoLLM và nền tảng AI Platform.
Trong lĩnh vực dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam phối hợp với Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro phát triển hệ hóa phẩm tăng cường thu hồi dầu phù hợp với điều kiện mỏ Bạch Hổ. Sau sáu tháng bơm ép thử nghiệm 100 tấn hóa phẩm tại giàn BK-16, sản phẩm cho thấy tiềm năng mở rộng ứng dụng. Viện cũng hợp tác với Vietsovpetro và Đại học Bách khoa Hà Nội chế tạo robot đáy biển mini AUV phục vụ khảo sát công trình biển ở độ sâu đến 100 m.
Riêng bốn sản phẩm, dịch vụ được thương mại hóa trong giai đoạn 2020-2025 đã mang lại doanh thu hơn 200 tỷ đồng cho Petrovietnam. Những kết quả này cho thấy giá trị của việc duy trì hợp tác từ khi doanh nghiệp nêu yêu cầu đến lúc giải pháp được thử nghiệm và hoàn thiện trong điều kiện thực tế.
Hiệu quả ứng dụng cũng có thể được đo ngay tại dây chuyền sản xuất. Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô phối hợp với Công ty Giấy Sông Đuống giúp giảm 10,8% điện năng tiêu thụ, tăng 5,09% tốc độ máy xeo. Trong nông nghiệp, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long chuyển giao giống OM18, OM9577 cho Tập đoàn Lộc Trời, với mức chi trả 200 đồng/kg giống bán ra. Cách tính này gắn lợi ích của đơn vị nghiên cứu với kết quả tiêu thụ sản phẩm.
Để hợp tác lâu dài, quyền sở hữu trí tuệ và việc phân chia lợi ích cần được thỏa thuận rõ. Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Chu Hoàng Hà cho biết, Viện từng thành lập nhiều doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990. Bên cạnh những trường hợp thành công, có doanh nghiệp khiến viện mất cán bộ, mất công nghệ hoặc phải xử lý hệ quả từ hoạt động không hiệu quả.
Kinh nghiệm đó đặt ra yêu cầu làm rõ cách định giá tài sản trí tuệ, quyền khai thác công nghệ và trách nhiệm của tổ chức chủ trì. Nhà khoa học cần được hưởng lợi tương xứng với đóng góp; viện, trường cần có nguồn lực tái đầu tư; doanh nghiệp cần cơ sở rõ ràng để tiếp tục phát triển sản phẩm.
Chất lượng nhân lực cũng cần được đặt trong nội dung hợp tác. Viện, trường cần tạo điều kiện để giảng viên, nghiên cứu viên và người học tham gia giải quyết bài toán sản xuất; doanh nghiệp cần đầu tư đội ngũ đủ năng lực tiếp nhận, vận hành và cải tiến công nghệ. Qua đó, quá trình chuyển giao có thể đồng thời trở thành quá trình đào tạo, tích lũy kinh nghiệm và nâng cao năng lực làm chủ công nghệ.
Đưa cơ chế hỗ trợ vào thực tiễn
Tại hội nghị ngày 23/10, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đánh giá hệ thống cơ chế, chính sách khoa học, công nghệ đã tương đối hoàn thiện. Vấn đề trọng tâm là tổ chức thực hiện, khắc phục tâm lý e ngại; đồng thời kịp thời kiến nghị sửa đổi những quy định còn bất cập.
Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy cũng lưu ý cần vận dụng các cơ chế hiện hành, tránh tình trạng tiếp tục đề xuất thêm văn bản trong khi chính sách đã có chưa được triển khai hiệu quả. Hai cơ chế được đề cập là phiếu hỗ trợ sử dụng công nghệ (voucher) và cấp kinh phí theo gói (block funding).
Theo hướng đề xuất, voucher hỗ trợ doanh nghiệp có nhu cầu dùng thử sản phẩm của doanh nghiệp công nghệ trong nước trong một khoảng thời gian. Việc thử nghiệm giúp bên sử dụng đánh giá mức độ phù hợp, đồng thời tạo cơ hội tiếp cận khách hàng cho bên phát triển sản phẩm. Đại diện Viettel đề nghị sớm triển khai cơ chế này đối với các sản phẩm đã sẵn sàng như thiết bị mạng 5G, camera AI và xử lý ảnh.
Với cấp kinh phí theo gói, việc giao nhiệm vụ dựa trên năng lực của tổ chức nghiên cứu cùng mục tiêu, kết quả đầu ra, giảm sự can thiệp quá sâu vào từng nội dung chuyên môn. Quyền chủ động của viện, trường phải đi cùng trách nhiệm sử dụng nguồn lực và thực hiện cam kết về sản phẩm.
Phó Thủ tướng yêu cầu nghiên cứu chuyển mạnh từ giao từng đề tài, nhiệm vụ sang giao nhiệm vụ theo gói, gắn quyền chủ động với trách nhiệm về mục tiêu, sản phẩm đầu ra. Năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu phải gắn với doanh nghiệp cụ thể, có sự tham gia hợp tác, cùng nghiên cứu và chia sẻ nguồn lực; phấn đấu nâng tỷ lệ này lên ít nhất 50% trong giai đoạn tiếp theo.
Để thực hiện yêu cầu này, cần hình thành bản đồ năng lực nghiên cứu, giúp doanh nghiệp tìm được đơn vị có thế mạnh phù hợp; phát triển phòng thí nghiệm theo cơ chế mở và hỗ trợ các khâu hoàn thiện công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm, chứng nhận, sản xuất thử. Những hoạt động này cần có đầu mối và trách nhiệm cụ thể để quá trình chuyển giao được tiếp nối sau nghiệm thu.
Với sản phẩm phục vụ nhu cầu công, Nhà nước có thể đặt hàng, tổ chức thử nghiệm và xem xét ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước đáp ứng yêu cầu. Việc mua sắm phải căn cứ vào nhu cầu thực tế, chất lượng và hiệu quả sử dụng ngân sách. Cơ chế tạo thị trường ban đầu cần khuyến khích doanh nghiệp tiếp tục cải tiến và nâng sức cạnh tranh.
Hiệu quả liên kết ba nhà vì thế cần được đánh giá bằng những thay đổi cụ thể: bài toán sản xuất được giải quyết, hợp đồng chuyển giao được thực hiện, công nghệ được làm chủ và năng suất được cải thiện. Cùng với sản phẩm đưa ra thị trường, năng lực của đội ngũ nghiên cứu và người lao động sau mỗi quá trình hợp tác cũng cần được coi là một kết quả quan trọng.