Dữ liệu giúp nhận diện nhu cầu nhân lực đang thay đổi

Nhu cầu tuyển dụng, trình độ lao động, kỹ năng và tiền lương liên tục biến động theo thị trường. Việc kết nối những dữ liệu này không chỉ giúp cơ quan quản lý nhìn rõ hơn cung – cầu việc làm mà còn tạo thêm cơ sở để doanh nghiệp tuyển dụng, cơ sở đào tạo điều chỉnh chương trình và người lao động chủ động chuẩn bị kỹ năng.

Tháng 8/2026, các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội có nhu cầu tuyển khoảng 38.000 vị trí việc làm. Trong số này, 52,5% nhu cầu hướng tới lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, trong khi lao động chưa qua đào tạo chiếm khoảng 19%.

Mức lương được doanh nghiệp chào tuyển phổ biến nhất nằm trong khoảng 10-20 triệu đồng/tháng, chiếm 53,3%. Những con số này cho thấy nhu cầu nhân lực không chỉ được thể hiện qua số lượng việc làm mà còn phản ánh sự thay đổi về trình độ và mức thu nhập mà thị trường đang tìm kiếm.

Tuy nhiên, một tháng dữ liệu mới chỉ phản ánh một lát cắt của thị trường. Để biết ngành nghề nào đang tăng nhu cầu, kỹ năng nào được doanh nghiệp tìm kiếm nhiều hơn hay nhóm lao động nào có nguy cơ gặp khó khăn khi tìm việc, cần đặt các thông tin trong một chuỗi dữ liệu đủ dài và có khả năng kết nối.

Dữ liệu không thể nằm riêng từng nơi

Thực tế thị trường việc làm cho thấy người lao động không chỉ tìm việc trong phạm vi nơi mình sinh sống. Một lao động ở Hà Nội có thể tìm cơ hội tại Bắc Ninh, Hải Phòng hoặc một địa phương khác; doanh nghiệp cũng có thể tuyển người từ nhiều tỉnh, thành.

Trong khi đó, thông tin về việc làm, nhu cầu tuyển dụng và người tìm việc được hình thành tại nhiều hệ thống khác nhau. Nếu các dữ liệu này không được chia sẻ, bức tranh về cung – cầu lao động sẽ khó đầy đủ.

Tại Hà Nội, Trung tâm Dịch vụ việc làm đã triển khai đánh giá, dự báo thị trường lao động từ nhiều năm qua, trên cơ sở dữ liệu thu thập trong quá trình tư vấn, giới thiệu việc làm và kết nối doanh nghiệp. Từ nguồn dữ liệu này, các bản tin thị trường, báo cáo chuyên đề, báo cáo thường niên về xu hướng lao động cũng được xây dựng để phục vụ công tác quản lý và hướng nghiệp.

Năm 2026, Trung tâm được giao vận hành Cổng Thông tin việc làm của thành phố. Việc kết nối hệ thống thông tin việc làm giữa các địa phương và với Sàn giao dịch việc làm quốc gia được đặt ra nhằm hạn chế tình trạng dữ liệu phân tán, đồng thời giúp người lao động và doanh nghiệp tiếp cận thông tin thuận lợi hơn.

Theo Kế hoạch thực hiện Kết luận số 62-KL/TW ngày 29/6/2026 của Ban Bí thư về nâng cao năng suất lao động quốc gia gắn với phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, hiệu quả trong giai đoạn mới, trong năm 2026, Bộ Nội vụ được giao hoàn thiện Cơ sở dữ liệu lao động, việc làm theo các tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống”; kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo hiểm xã hội và đăng ký doanh nghiệp.

Cùng với đó là nâng cấp Sàn giao dịch việc làm quốc gia, hiện đại hóa hệ thống dịch vụ việc làm công và xây dựng đề án nâng cao năng lực phân tích, dự báo thị trường lao động.

Không chỉ biết thị trường đang cần gì

Một cơ sở dữ liệu lớn chỉ thực sự có ý nghĩa khi những con số được phân tích để trả lời các câu hỏi cụ thể của thị trường.

Đó có thể là ngành nghề nào đang thiếu lao động, kỹ năng nào ngày càng được doanh nghiệp yêu cầu, mức lương đang thay đổi ra sao, địa phương nào có nhu cầu nhân lực cao hoặc nhóm lao động nào cần được đào tạo lại để thích ứng với công việc mới.

Những thông tin này có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình phát triển nguồn nhân lực. Khi biết thị trường đang cần những kỹ năng nào, cơ sở đào tạo có thể điều chỉnh chương trình và quy mô đào tạo. Doanh nghiệp có thêm căn cứ xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo và sử dụng lao động. Với người học, dữ liệu thị trường có thể trở thành một kênh tham khảo quan trọng khi lựa chọn ngành nghề.

Đặc biệt, với học sinh, sinh viên, thông tin về nhu cầu tuyển dụng và xu hướng việc làm nếu được cập nhật thường xuyên sẽ giúp hoạt động hướng nghiệp sát hơn với thực tế. Thay vì chỉ lựa chọn ngành học dựa trên xu hướng nhất thời, người học có thể nhìn vào yêu cầu về trình độ, kỹ năng và cơ hội việc làm trong một khoảng thời gian dài hơn.

lao-dong-1-1661829567937350045888-1673351255816273616194-1790131105.jpg
Dữ liệu về việc làm chỉ thực sự có giá trị khi đặt trong một chuỗi đủ dài để đánh giá được xu hướng. (Ảnh: Báo Chính phủ)

Ở chiều ngược lại, dữ liệu cũng giúp nhận diện sớm những khoảng trống của thị trường. Một ngành có thể đang tuyển dụng nhiều nhưng nếu hệ thống đào tạo không kịp đáp ứng, doanh nghiệp có thể thiếu nhân lực trong những năm tiếp theo. Một số công việc khác có thể giảm nhu cầu do thay đổi công nghệ, từ đó đặt ra yêu cầu đào tạo lại hoặc chuyển đổi kỹ năng cho người lao động.

Để những dự báo này có giá trị, dữ liệu đầu vào phải được cập nhật thường xuyên và có sự tham gia của cả doanh nghiệp, người lao động, cơ sở đào tạo và các đơn vị dịch vụ việc làm. Thông tin tuyển dụng cần phản ánh đúng nhu cầu thực tế; dữ liệu của người tìm việc cần được cập nhật; các nguồn dữ liệu khác nhau cần có khả năng kết nối và kiểm chứng.

Khi đó, dữ liệu không chỉ giúp trả lời thị trường lao động đang có bao nhiêu việc làm, bao nhiêu người tìm việc, mà còn giúp nhìn rõ hơn thị trường đang thay đổi theo hướng nào và nguồn nhân lực cần chuẩn bị gì cho giai đoạn tiếp theo.

Đây cũng là cơ sở để kết nối đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động, giúp người học có thêm thông tin khi lựa chọn nghề nghiệp và để doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch phát triển nhân lực.

Huyền Anh (TH)