Sáng nay, 27/3, Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp" được tổ chức tại trụ sở Chính phủ. Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị.
Cùng dự có Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng; lãnh đạo một số bộ, ngành và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.

Phát biểu ý kiến khai mạc hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, đất nước trải qua giai đoạn 2021-2025 trong bối cảnh thế giới và khu vực biến động phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ; trong đó doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn như đứt gãy các chuỗi cung ứng, thiếu hụt thị trường, các vấn đề thuế quan, đối mặt với thiên tai, bão lũ…
Đặc biệt, trong 2 năm cuối nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã ban hành 9 Nghị quyết chiến lược, sau đó Chính phủ đã trình Quốc hội các nghị quyết để thể chế hóa và triển khai thực hiện sớm, nhằm tạo nền tảng vững chắc tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030.
Thủ tướng cho rằng, nông nghiệp và đầu tư nước ngoài đã đưa đất nước thoát khỏi khó khăn; công nghiệp đưa Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình cao; trong giai đoạn mới, chúng ta xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là nền tảng cho sự phát triển, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Vai trò của doanh nghiệp ngày càng được đề cao, càng được tôn vinh; nhận thức thay đổi thì tư duy, phương pháp luận và cách tiếp cận, hành động cũng phải thay đổi, với tinh thần "nguồn lực bắt nguồn từ tư duy và tầm nhìn, động lực bắt nguồn từ sự đổi mới và sáng tạo, sức mạnh bắt nguồn từ Nhân dân và doanh nghiệp".
Hình thành các doanh nghiệp mang tầm cỡ khu vực và toàn cầu
Thủ tướng nêu rõ, bước vào giai đoạn 2026-2030, Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định, mục tiêu tăng trưởng trung bình 10% trở lên. Đây là mệnh lệnh của non sông, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, thịnh vượng. Tuy nhiên, bối cảnh trong nước và quốc tế còn nhiều thách thức như bảo hộ thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạn kiệt tài nguyên, chuyển đổi năng lượng…. đang là những thách thức lớn.
Do đó, chúng ta phải làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, phát triển dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo, kinh tế tầm thấp… Chúng ta phải vươn xa ra biển lớn, khai thác 7 tầng năng lượng của biển; bay cao lên vũ trụ; tiến sâu vào lòng đất để khai thác không gian ngầm.
Thủ tướng nêu rõ, tất cả điều này đòi hỏi trí tuệ, nỗ lực; với tư duy, phương pháp luận và cách làm phải thay đổi. Trong tiến trình này, Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, thể chế, chính sách, song người làm vẫn là doanh nghiệp; dù đường lối, thể chế tốt nhưng nếu doanh nghiệp không nỗ lực thì không thể thành công, không đạt hiệu quả như mong muốn. Doanh nghiệp phải là trung tâm, chủ thể trong sự phát triển. Do đó, doanh nghiệp phải đóng góp vào đổi mới, xây dựng thể chế, nhận thức rõ vai trò trong phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Chia sẻ với doanh nghiệp bằng trái tim
Nêu rõ mục tiêu tăng trưởng 2 con số cần sự nỗ lực, tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, Thủ tướng khẳng định Chính phủ lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp với sự chân thành, chia sẻ với doanh nghiệp bằng trái tim, hành động bằng sản phẩm cụ thể, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp để góp phần hoàn thành 2 mục tiêu chiến lược 100 năm.
Tại hội nghị này, Thủ tướng đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận làm thế nào để chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì đây là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược.
Cùng với đó, hình thành các doanh nghiệp mang tầm cỡ khu vực và toàn cầu; đưa các hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp; doanh nghiệp vừa và nhỏ trở thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp lớn trở thành doanh nghiệp toàn cầu, xuyên quốc gia.
Đồng thời, tận dụng kinh tế số, kinh tế xanh, các FTA để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu; đóng góp nhiều hơn, tham gia sâu hơn vào nền kinh tế thế giới; nâng cao chất lượng sản xuất hàng hóa, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược. Nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu lao động quốc tế. Thủ tướng cũng đặt vấn đề, Nhà nước cần tháo gỡ điểm nào về thể chế, chính sách, nguồn lực để tạo đột phá cho doanh nghiệp.
Thủ tướng cho rằng, đây đều là những vấn đề lớn đòi hỏi tất cả các chủ thể phải chung tay, đề cao trí tuệ tiết kiệm thời gian, quyết đoán đúng lúc để đạt hiệu quả cao nhất. Để đất nước vượt qua những cơn gió ngược, tăng trưởng hai con số thì tất cả các cấp, các ngành, địa phương đều phải tăng trưởng hai con số. Đồng thời, đề cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết trong nước để ứng phó những vấn đề thời đại, vấn đề bên ngoài. Chúng ta kiên trì thực hiện đường lối đa dạng hoá, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế; là bạn bè tốt, đối tác tốt, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tranh thủ nguồn lực bên ngoài là nguồn vốn, quản trị, khoa học công nghệ.
Về huy động nguồn lực từ khu vực doanh nghiệp cho phát triển kinh tế, xã hội, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 33% GDP. Đến hết năm 2025, quy mô thị trường cổ phiếu đạt khoảng 86,7% GDP, thị trường trái phiếu đạt khoảng 30% GDP. Qua ba đợt khởi công, khánh thành đồng loạt trong năm 2025, cả nước đã khởi công, khánh thành 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư khoảng 5,2 triệu tỷ đồng, trong đó nguồn vốn tư nhân chiếm gần 75%.
Đặc biệt, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, khí thế khởi sự kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ; từ tháng 5/2025, bình quân mỗi tháng có khoảng 18.000 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 38% so với bình quân 4 tháng đầu năm. Năm 2025, cả nước có gần 298 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Bên cạnh những kết quả rất quan trọng nêu trên, nền kinh tế và khu vực doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, khó khăn, thách thức. Thể chế, pháp luật còn một số vướng mắc, bất cập, chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời; việc phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, điều kiện kinh doanh trong một số lĩnh vực còn chưa cải cách triệt để; các vấn đề pháp lý tồn đọng của một số doanh nghiệp, dự án đầu tư chưa được giải quyết dứt điểm.
Doanh nghiệp là chủ thể kiến tạo tăng trưởng
Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết, bước sang giai đoạn 2026-2030, bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra cả thời cơ lớn lẫn thách thức rất gay gắt, đặt ra sức ép và cũng là động lực cải cách và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số" gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng là yêu cầu không thể chậm trễ, là điều kiện tiên quyết để ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, tạo nền tảng vững chắc để đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Nếu tiếp tục dựa vào các động lực truyền thống và cách làm cũ, chúng ta sẽ không thể đạt được mục tiêu này. Cần đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướng lấy phát triển đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu; dựa trên nền tảng Nhà nước kiến tạo phát triển, thể chế hiện đại, đồng bộ và việc phát huy cao nhất tri thức, khoa học công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây thực chất là một cuộc cải cách toàn diện, trong đó doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống chính sách và là chủ thể kiến tạo tăng trưởng.
Doanh nghiệp tư nhân phải thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước cần phát huy vai trò chủ đạo, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn trọng yếu, có tính chiến lược và sức lan tỏa cao; dẫn dắt cho khu vực tư nhân, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và công nghệ lõi. Các doanh nghiệp FDI đóng vai trò là nguồn lực bổ sung quan trọng, gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp trong nước. Ba khu vực này phải hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo thành hệ sinh thái doanh nghiệp năng động, hiệu quả, bền vững.

Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính kiến nghị: Về phía các Bộ, ngành, địa phương, cần quyết liệt triển khai đồng bộ, hiệu quả các chủ trương lớn của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hội nhập quốc tế.... Trọng tâm là hoàn thiện thể chế, cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm thủ tục hành chính; bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tiếp cận bình đẳng các nguồn lực giữa các khu vực doanh nghiệp; đồng thời hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới; cho phép áp dụng cơ chế "sandbox" cơ chế chuyên biệt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, trọng tâm là công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, công nghệ chiến lược, công nghệ mới....
Về phía doanh nghiệp, cần tiếp tục phát huy tinh thần tiên phong và khát vọng cống hiến vì một quốc gia cường thịnh; chủ động đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh. Chủ động tham gia cùng Nhà nước triển khai các dự án lớn, chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia, trọng điểm, tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên phục vụ mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng hai con số. Chủ động nâng cao năng lực sản xuất, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chiến lược, tiến tới tự lực, tự chủ và tự cường về khoa học và công nghệ. Chủ động tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã hoặc cam kết sẽ tham gia.
Về phía các tổ chức hiệp hội doanh nghiệp, cần tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp hội viên, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, chủ động phối hợp với các cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách, giải pháp hỗ trợ. Đồng thời, các hiệp hội cần phát huy vai trò cầu nối hiệu quả giữa Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là yêu cầu về tốc độ, mà là yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây không chỉ là nhiệm vụ kinh tế, mà là sứ mệnh chiến lược để đưa đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Trong tiến trình đó, doanh nghiệp phải thực sự trở thành lực lượng tiên phong, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và tạo dựng vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu, Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết.
Các ngân hàng thương mại nhà nước dự kiến gia tăng giải ngân khoảng1 triệu tỷ đồng
Ông Lê Ngọc Lâm, Tổng Giám đốc BIDV cho biết: Hội nghị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc thúc đẩy kinh tế Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới. Đây không chỉ là mục tiêu về quy mô tăng trưởng mà còn mang ý nghĩa chiến lược trong việc nâng cao vị thế quốc gia, tăng cường năng lực cạnh tranh và cải thiện chất lượng sống của người dân.

Ngay từ đầu năm 2026, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành đồng bộ nhiều Nghị quyết, Chỉ thị và Công điện quan trọng, định hướng rõ mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10%, đồng thời yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển thị trường vốn và đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.
Đây là cơ sở quan trọng để hệ thống các tổ chức tín dụng, trong đó có BIDV, chủ động triển khai các giải pháp hỗ trợ nền kinh tế. Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và mang tính đột phá, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, chủ lực trong việc thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn và dẫn dắt thị trường.
Với lợi thế về quy mô, năng lực tài chính và mạng lưới rộng khắp, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục giữ vai trò chi phối trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Về tổng tài sản, đến cuối năm 2025, nhóm "Big Four" (4 ngân hàng lớn) đạt khoảng 11 triệu tỷ đồng, chiếm 46,5% giá trị tổng tài sản toàn ngành ngân hàng. Trong đó, BIDV là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất, đạt 3,27 triệu tỷ đồng (chiếm 13,9% tổng tài sản toàn ngành).
Về dư nợ tín dụng, tổng dư nợ của 4 ngân hàng này đạt khoảng 8 triệu tỷ đồng, chiếm 42,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Riêng thị phần tín dụng của BIDV đạt 12,5%.
Trong năm 2026, với tốc độ tăng trưởng bình quân do Ngân hàng Nhà nước giao khoảng 11 - 12%, các ngân hàng thương mại nhà nước dự kiến gia tăng giải ngân khoảng 1 triệu tỷ đồng, để phục vụ các nhu cầu vốn của nền kinh tế. Nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng sẽ tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng và chuyển đổi số. Đây là các động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng.
BIDV tự hào luôn là ngân hàng đi đầu trong việc triển khai tài trợ cấp tín dụng cho các dự án, công trình lớn như: sân bay, cảng biển, cầu đường, viễn thông, cao tốc, hạ tầng điện lực… nhằm phục vụ phát triển hạ tầng quốc gia.
Song song với vai trò cung ứng vốn, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong việc thực thi chính sách tiền tệ, chủ động điều tiết thanh khoản, ổn định thị trường ngoại hối, góp phần giữ vững mặt bằng lãi suất hợp lý để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh.
Đồng thời, các ngân hàng thương mại nhà nước cũng triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước; tăng cường kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, giúp cải thiện khả năng tiếp cận vốn và giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, từ đó kích thích đầu tư và tiêu dùng. Đây là những yếu tố cốt lõi để đạt được tăng trưởng kinh tế cao.
Cùng với đó, các ngân hàng thương mại cùng ngành ngân hàng tích cực triển khai chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ hiện đại trong cung ứng dịch vụ và quản trị điều hành, từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro. Đây là nền tảng quan trọng giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và thúc đẩy phát triển toàn diện.
Để hệ thống ngân hàng phát huy hơn nữa vai trò dẫn dắt và hỗ trợ các động lực tăng trưởng, thay mặt các ngân hàng thương mại nhà nước, BIDV nêu một số kiến nghị sau:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao năng lực tài chính cho các ngân hàng thương mại nhà nước theo hướng bền vững, linh hoạt và chủ động. Trong đó, cho phép giữ lại toàn bộ lợi nhuận để chi trả cổ tức bằng cổ phiếu nhằm nâng cao năng lực vốn.
Thứ hai, đề xuất Chính phủ cho phép bán nợ xấu theo giá thị trường (có thể thấp hơn giá gốc của khoản nợ) nhưng vẫn thực hiện đảm bảo đúng quy trình, thủ tục công khai, minh bạch để giải phóng nguồn lực hiện nay đang bị ách tắc do nợ xấu.
Thứ ba, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời phân bổ hạn mức tín dụng phù hợp để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao.
Thứ tư, thúc đẩy triển khai các chương trình tín dụng trọng điểm quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi số. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng để khuyến khích mở rộng tín dụng.
Thứ năm, phát triển đồng bộ thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường vốn và trái phiếu doanh nghiệp nhằm giảm áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng, qua đó nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Thứ sáu, đẩy mạnh phát triển hạ tầng số và cơ sở dữ liệu quốc gia. Tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các Bộ, ngành với hệ thống ngân hàng nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng thẩm định rủi ro, tín dụng và mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho người dân, doanh nghiệp.
Thứ bảy, xây dựng nền tảng pháp lý cho các mô hình kinh tế mới, các động lực tăng trưởng mới như: kinh tế số, kinh tế chia sẻ, kinh tế ban đêm, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn...
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số là thách thức lớn nhưng hoàn toàn khả thi với sự quyết tâm của Chính phủ, sự hưởng ứng và đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp cũng như hệ thống tài chính ngân hàng.
BIDV cam kết sẽ tiếp tục phát huy vai trò ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực, tiên phong thực hiện các chủ trương, chính sách của Chính phủ, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân, góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững của đất nước.