“Dân vận số” - “Chìa khóa vàng” xây dựng thế trận lòng dân trong kỷ nguyên số (Kỳ 1)

Trong kỷ nguyên số, không gian mạng đã trở thành địa bàn dân vận chiến lược. Vì thế, dân vận số là sự vận dụng tư tưởng “dân là gốc”, kết hợp giữa phương thức dân vận truyền thống với nền tảng số để bảo vệ thế trận lòng dân. Dân vận số là mệnh lệnh từ thực tiễn.

Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị. Chúng ta biết rằng, hai nhân tố có tính chất quyết định đến thắng lợi của cách mạng là: Thứ nhất, đường lối lãnh đạo đúng đắn của một đảng cách mạng chân chính. Không có Đảng thì quần chúng không có ai dẫn đường. Thứ hai, quần chúng nhân dân. Đảng không có quần chúng nhân dân thì không đủ lực lượng. Song vấn đề quan trọng nằm ở chỗ “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì con thuyền mới chạy”; quần chúng nhân dân mà không có được sự giác ngộ, giáo dục, tổ chức chặt chẽ thì hành động cũng chỉ là tự phát.

ky-1-phu-nu-dan-toc-dao-xa-hong-thai-na-hang-tim-hieu-ve-chuyen-doi-so-qua-dien-thoai-thong-minh-nguon-trang-thong-tin-dien-tu-hoi-lhpn-viet-nam-1785197827.jpg

Như vậy, trong quan niệm về “Đảng vững” có yếu tố huy động, tổ chức được lực lượng nhân dân. Không quy tụ được nhân dân thì không có thắng lợi của cách mạng. Đó chính là dân vận. Trong bài báo “Dân vận”, Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”. Người cũng khẳng định vai trò của công tác dân vận: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”, sự ủng hộ và tham gia của nhân dân là chìa khóa quyết định thắng lợi của cách mạng và nhiệm vụ chính trị. “Khéo” tức là phải tìm mọi cách, mọi hình thức để giải thích, thuyết phục cho đến khi dân hiểu, dân đồng lòng.

Trong kỷ nguyên số, với sự bùng nổ của công nghệ số và mạng xã hội, hoạt động của người dân đang dần dần dịch chuyển lên môi trường số. Điều đó đòi hỏi sự đổi mới quyết liệt, mạnh mẽ về phương thức tiếp cận, vận động quần chúng nhân dân bắt kịp với thực tiễn. Không còn bó hẹp trong các hội trường hay những buổi tiếp xúc trực tiếp, công tác dân vận hiện nay đã mở rộng ra không gian số, tạo nên “dân vận số” với những đặc điểm và yêu cầu hoàn toàn mới.

“Dân vận số” là gì?

“Dân vận số” là hoạt động vận động, tuyên truyền, lắng nghe, tương tác và phục vụ nhân dân trên nền tảng số bằng việc sử dụng Internet, dữ liệu số, công nghệ số và truyền thông số để đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân nhanh hơn và tiếp nhận, xử lý tâm tư, nguyện vọng của nhân dân kịp thời hơn.

Về bản chất “dân vận số” là hiện đại hóa cách thức tuyên truyền, vận động nhân dân, đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. “Dân vận số” không làm thay đổi bản chất của công tác dân vận, mục tiêu cuối cùng vẫn là củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng tính đồng thuận, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân. Trong đó, công nghệ chỉ là công cụ, phương tiện góp phần thúc đẩy công tác dân vận hiệu quả hơn, trong điều kiện đời sống xã hội đang dịch chuyển mạnh lên không gian số.

Mục đích của công tác “dân vận số” là để đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến với nhân dân nhanh hơn, để tâm tư, nguyện vọng của nhân dân được

lắng nghe kịp thời hơn, nhân dân có thể bày tỏ quan điểm, ý kiến toàn diện hơn, để những mầm mống hoài nghi, xuyên tạc, chống phá Đảng không có cơ hội lan rộng thành điểm nóng về tư tưởng. Đó là nhiệm vụ cao cả của “dân vận số”.

Tại sao nói “dân vận số” là mệnh lệnh từ thực tiễn?

Trước hết, chính “địa bàn” của lòng dân đã thay đổi. Khi đời sống xã hội dịch chuyển mạnh lên môi trường số, nơi nhân dân bày tỏ tâm tư, thái độ, niềm tin và cả những bức xúc không còn chỉ là thôn xóm, cơ quan, hội trường. Đó còn là mạng xã hội, nhóm cộng đồng, diễn đàn trực tuyến.

Nếu trước đây dân vận là “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, thì hiện nay không gian mạng đã trở thành một “không gian xã hội” đặc biệt với 85,6 triệu người dùng Internet chiếm 84.2% dân số, 79 triệu tài khoản mạng xã hội chiếm 77,6% dân số (báo cáo Digital Vietnam 2025 DataReportal). Vì thế, không gian mạng là nơi tư tưởng, niềm tin và cả những bức xúc của người dân được bộc lộ trực diện hơn bao giờ hết. Nếu Đảng không hiện diện nơi dân đang ở, không lắng nghe nơi dân đang nói, chúng ta sẽ tự đánh mất sợi dây liên kết máu thịt với quần chúng. Do đó, nếu công tác dân vận bỏ qua không gian số đó dễ dẫn đến xa rời nhân dân, tạo nên “khoảng trống thông tin” và đánh mất địa bàn chiến lược quan trọng.

Thứ hai, không gian mạng hiện nay đã trở thành trận địa không tiếng súng đầy rẫy những “cạm bẫy thông tin”. Các thế lực thù địch đang ngày đêm tận dụng tối đa lợi thế của thuật toán và tính ẩn danh để gieo rắc virus hoài nghi, xuyên tạc sự thật, hòng bào mòn niềm tin của nhân dân. Chúng tạo dựng cái gọi là “bẫy thông tin” hỗn loạn bằng việc sử dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) để cắt xén, bóp méo ngữ cảnh hoặc lồng ghép những nhận định phiến diện khiến người tiếp nhận khó phân biệt đúng sai, từ đó dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực. Chúng đặc biệt nhạy bén với các sự kiện tiêu cực trong đời sống xã hội như: Sai phạm của cán bộ, ô nhiễm môi trường, hay những bất cập trong quản lý kinh tế, những vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhân dân.

Thay vì đóng góp ý kiến xây dựng, chúng “giật tít, câu view” lợi dụng nỗi đau hoặc sự bức xúc của người dân để quy chụp về bản chất chế độ, biến những bức xúc dân sinh thành mâu thuẫn chính trị. Điểm nguy hiểm của các luận điệu ấy là chúng không trực diện phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ngay từ đầu, mà gieo rắc nghi ngờ từng chút một, biến sai phạm cá biệt thành bản chất chế độ, biến khó khăn trong quản lý thành cái cớ phủ nhận thành tựu phát triển, biến bức xúc dân sinh thành mâu thuẫn chính trị. Vì thế, đấu tranh trên không gian mạng không thể chỉ bằng phản ứng sau khi tin giả lan truyền, mà phải bằng “dân vận số” chủ động, kịp thời, thuyết phục.

Nguy hiểm hơn, chúng còn thực hiện âm mưu “Bào mòn niềm tin” của nhân dân. Với chiến thuật “mưa dầm, thấm lâu” các thế lực thù địch lặp đi lặp lại những thông tin hoài nghi, châm biếm, xuyên tạc các chính sách của Đảng và Nhà nước. Điều đó không làm thay đổi quan điểm của nhân dân ngay lập tức mà làm cho người dân cảm thấy bất an, hoang mang, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, từ đó tạo ra sự thờ ơ chính trị hoặc tâm lý đối lập ngầm.

ky-1-to-cong-nghe-so-cong-dong-xa-chau-pha-thanh-pho-ho-chi-minh-huong-dan-nguoi-dan-cai-dat-ung-dung-dc-40-va-ung-dung-thiet-yeu-gop-phan-xay-d-1785197827.jpg

Không dừng lại ở đó, các thế lực thù địch âm mưu tấn công vào “Khoảng trống thông tin”. Tại những thời điểm các cơ quan chức năng chưa kịp cung cấp thông tin chính thống về một sự việc nhạy cảm, các thế lực thù địch sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh không gian mạng bằng các luồng tin đồn đoán. Chúng sử dụng các tài khoản ảo (bot), các “Kols tự xưng” để tạo ra làn sóng dư luận giả tạo, khiến người dân lầm tưởng đó là ý chí của đa số. Chúng sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo và Big Data để phân loại đối tượng (thanh niên, trí thức, công nhân...). Với mỗi đối tượng, chúng có một “kịch bản” riêng: Với giới trẻ là sự tự do quá trớn; với người lao động là vấn đề an sinh; với trí thức là các vấn đề dân chủ, nhân quyền... nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc từ bên trong.

Thực chất, những luận điệu xuyên tạc, tin giả trên mạng không nhằm tranh luận học thuật. Mục tiêu của chúng là làm suy giảm niềm tin, kích động tâm lý hoài nghi, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. Chúng không chỉ chống phá bằng thông tin, mà còn tìm cách làm suy giảm đồng thuận xã hội. Khi lòng dân dao động, “thế trận lòng dân” trên không gian số bị ảnh hưởng, tạo ra những xung yếu trong khối đại đoàn kết dân tộc”. Trong cuộc chiến trên trận địa tư tưởng này, nếu chúng ta chậm chân, kẻ thù sẽ chiếm lĩnh; nếu chúng ta lơ là, lòng dân sẽ bị xâm lấn.

Thứ ba, Xuất phát từ thực tiễn phương thức lãnh đạo, quản lý và phục vụ nhân dân đang thay đổi. Minh chứng rõ ràng nhất là trong năm 2025 đã lấy ý kiến của đông đảo cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân vào dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thông qua ứng dụng Vneid, chỉ trong 1 tháng đã có gần 5 triệu lượt cán bộ, đảng viên, nhân dân đóng góp ý kiến qua Vnied4; lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 thông qua ứng dụng định danh điện tử Vnied đã có 14 triệu người dân tham gia góp ý. Hình thức lấy ý kiến mới, cách tiếp cận mới đã và đang khẳng định sự minh bạch, dân chủ và đồng thuận để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động trí tuệ, tâm huyết của toàn dân, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Từ đó, thế trận lòng dân càng thêm vững chắc.

Đồng thời, thông qua “dân vận số” Đảng, Nhà nước và chính quyền có thể lắng nghe ý chí, nguyện vọng của Nhân dân một cách toàn diện, nhanh chóng và chính xác. Đặc biệt, thông qua các cộng đồng dân cư trên không gian mạng như các nhóm Zalo, Facebook, cổng thông tin điện tử từ khu phố, cơ quan, đến phường, xã phát triển theo cả địa lý hành chính lẫn đặc thù công việc, từ biên giới hải đảo, vùng sâu, vùng xa mọi người có thể cập nhật, cung cấp thông tin về đường lối, chủ trương của Đảng bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu chỉ sau vài giây. “Dân vận số” giúp chủ trương, chính sách của Đảng được lan tỏa sâu rộng, một thông điệp, chính sách, một câu chuyện đẹp về lòng tốt hay một lời giải thích xác đáng có thể tiếp cận hàng triệu người chỉ sau một lần chạm, một lượt chia sẻ, một bình luận đúng lúc. Đó là lợi thế không nhỏ mà “dân vận số” mang lại.

Thứ tư, “dân vận số” là sự tiếp nối tự nhiên của tư tưởng “dân là gốc”. Đối với, “dân vận số” bản chất dân vận không thay đổi, vẫn là trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Điều thay đổi là phương thức thực hiện.

Nếu trước đây chủ yếu dân vận tiến hành qua gặp gỡ trực tiếp; thì “dân vận số” dựa trên nền tảng số, dữ liệu số, truyền thông số, tương tác số để đến gần với nhân dân hơn. Trong môi trường số, trách nhiệm ấy đòi hỏi cán bộ, đảng viên, hội viên không chỉ tuyên truyền, giải thích, thuyết phục, mà còn phải giúp nhân dân nhận diện tin giả, thông tin xấu độc, thủ đoạn lừa đảo, từ đó tự bảo vệ mình và cùng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

“Dân vận số” không thay thế dân vận truyền thống, càng không thay đổi bản chất “dân là gốc” của công tác dân vận. Nó chỉ đặt ra yêu cầu mới cần phải trọng dân hơn trong minh bạch thông tin, gần dân hơn trong tương tác số, hiểu dân hơn qua lắng nghe và phân tích những chuyển động của đời sống số.

Trần Minh Điệp