Đại biểu Thạch Phước Bình, đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long nêu rõ: Trong tiến trình cải cách chính sách tiền lương, việc điều chỉnh mức lương cơ sở không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn là yếu tố quyết định trực tiếp đến đời sống, động lực làm việc và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Trong những năm gần đây, Nhà nước đã có những bước điều chỉnh tích cực khi nâng mức lương cơ sở từ 1,49 triệu đồng lên 1,8 triệu đồng rồi 2,34 triệu đồng/tháng và dự kiến tiếp tục tăng lên 2,53 triệu đồng từ ngày 1/7/2026. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay không còn là có tăng hay không mà là tăng ở mức nào để vừa đảm bảo đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách, đồng thời tạo động lực phát triển khu vực công.
Đại biểu Phước Bình đánh giá, mức 2,53 triệu đồng/tháng là một bước tăng hợp lý về mặt kỹ thuật nhưng chưa đủ mạnh để bảo đảm cuộc sống cho đa số người làm khu vực công. Mức này chỉ tăng khoảng 8,12% so với 2,34 triệu đồng hiện hành, tức là cao hơn lạm phát bình quân năm 2025 (3,63%) và cũng cao hơn mức CPI bình quân quý I/2026 là 3,51%, nên về danh nghĩa và khả năng thực tế, người hưởng lương ngân sách có thêm một phần thu nhập dương. Đồng thời, mức tăng này khá gần với nhịp tăng lương tối thiểu vùng năm 2026 của khu vực doanh nghiệp khoảng 7,2%.
Đại biểu Bình phân tích, mức này chưa đủ để người khu vực công sống được bằng lương; nhất là đối với người mới vào nghề, người không có nguồn thu bổ sung và người làm việc ở đô thị lớn. Cụ thể, một công chức mới vào nghề với hệ số 1,86 chỉ đạt khoảng 4,7 triệu đồng/tháng trước khi trừ bảo hiểm, trong khi chi phí sinh hoạt tối thiểu tại đô thị phổ biến từ 6-7 triệu đồng/tháng. Điều này cho thấy khoảng cách đáng kể giữa thu nhập và nhu cầu sống cơ bản.
Hệ quả là người lao động khó sống độc lập bằng lương, phải phụ thuộc vào nguồn thu nhập bổ sung, giảm động lực và chất lượng cuộc sống. Do đó, theo đại biểu, mức 2,53 triệu đồng chỉ đạt mục tiêu ổn định, chưa đạt mục tiêu bảo đảm đời sống. Mặt khác, từ ngày 1/1/2026, lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp đã lên 5,31 triệu đồng ở vùng I và 4,73 triệu đồng ở vùng II; mức 4,14 triệu đồng ở vùng III và 3,7 triệu đồng ở vùng IV. Bình quân bốn vùng là khoảng 4,47 triệu đồng/tháng. Nếu lấy mức lương cơ sở mới 2,53 triệu đồng nhân với hệ số khởi điểm thấp thường gặp 1,86 thì tiền lương theo công thức cũ chỉ khoảng 4,7 triệu đồng/tháng. Với hệ số 2,1 thì khoảng 5,3 triệu đồng/tháng.

Nói cách khác, người ở nhóm thấp nhất chỉ vừa nhỉnh hơn mức lương tối thiểu vùng bình quân, còn người ở nhóm 2,1 thì chỉ vừa chạm ngưỡng vùng I. Với mặt bằng chi phí đô thị, đó chỉ là mức cầm cự, chưa phải mức bảo đảm cuộc sống ổn định.
Ngoài ra, áp lực chi tiêu cũng không hề nhỏ. Ngay trong năm 2025, nhiều nhóm chi phí thiết yếu tăng nhanh hơn CPI chung như nhà ở, điện, nước và vật liệu xây dựng tăng 8,3%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,92%. Điều này rất quan trọng vì đây là các khoản chi “khó né” của hộ gia đình, công chức, viên chức. Vì vậy, dù lương cơ sở tăng 8,12%, cảm nhận thực tế của nhiều người vẫn có thể là đỡ hơn trước chứ chưa đạt mức an tâm, nhất là khi còn nuôi con, thuê nhà, đi lại, học hành, chăm sóc y tế...
“Từ các phân tích thực tiễn về thu nhập và chi phí sống, mức 2,65-2,7 triệu đồng/tháng, tức là tăng khoảng 13-15% so với mức lương cơ sở hiện hành là phương án hợp lý và khả thi hơn trong giai đoạn hiện nay. Đây là phương án tối ưu về tổng thể, vừa đảm bảo tính khả thi, vừa tạo được bước chuyển biến thực chất, đồng thời mở đường cho các bước cải cách sâu hơn trong thời gian tới", đại biểu nhấn mạnh.
Về mặt cân đối ngân sách, đại biểu Thạch Phước Bình phân tích, mức 2,65 - 2,70 triệu có ưu điểm không tạo áp lực quá lớn lên ngân sách Nhà nước; có thể thực hiện nếu đi kèm tinh giản biên chế, cơ cấu lại chi tiêu công, giảm các khoản chi kém hiệu quả. Điểm mấu chốt là đạt được sự cân bằng giữa khả năng chi trả và yêu cầu cải thiện đời sống.