Dù bối cảnh quốc tế nhiều thách thức, kinh tế năm 2026 dự kiến vẫn vượt 14/15 chỉ tiêu, tạo đà quan trọng để Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng trên 10% và đổi mới mô hình phát triển năm 2027.

Ngày 17/10, tại phiên Khai mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã trình bày Báo cáo về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2027.
Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, năm 2026 là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho giai đoạn phát triển mới. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành đồng bộ nhiều chủ trương, quyết sách lớn, có tính chiến lược, bao quát các nền tảng và động lực phát triển chủ yếu trên các lĩnh vực, từng bước định hình mô hình, thể chế phát triển và phương thức quản trị quốc gia phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới.
Đạt và vượt 14/15 chỉ tiêu
Thủ tướng nhấn mạnh trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực diễn biến hết sức phức tạp, nhiều vấn đề mới phát sinh vượt dự báo, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, xung đột gây đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, điều chỉnh chính sách của các nước đã tác động mạnh, trực tiếp làm suy giảm tăng trưởng kinh tế của các quốc gia và thương mại quốc tế, gia tăng lạm phát, đặc biệt giá xăng dầu, giá nhiều mặt hàng chiến lược tăng mạnh.
Tuy nhiên, với sự vào cuộc quyết liệt, trách nhiệm, sâu sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã bám sát các Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội, khẩn trương cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động, quyết liệt đổi mới căn bản phương thức làm việc, tổ chức thực hiện theo hướng khoa học, hợp lý, hiệu quả.
Nổi bật là các cấp, các ngành, các địa phương quyết liệt triển khai, tạo chuyển biến rõ nét, đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện, dự kiến đạt và vượt 14/15 chỉ tiêu kinh tế-xã hội.
Kết quả, tăng trưởng kinh tế cao gắn với ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Theo đó, các động lực tăng trưởng được phát huy, tạo nền tảng cho đổi mới mô hình phát triển. Tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước, GDP quý 3 tăng 9,95%, 9 tháng tăng 9,01%, thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới.
Thu ngân sách Nhà nước cả năm ước đạt 3,06 triệu tỷ đồng, tăng 14%, trong khi đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí khoảng 360 nghìn tỷ đồng. Đến hết năm 2026, nợ công khoảng 33-34% GDP; nợ Chính phủ khoảng 32-33% GDP; nợ nước ngoài quốc gia khoảng 28-29% GDP; bội chi ngân sách khoảng 4,1% GDP, trong giới hạn an toàn, tỷ giá ổn định.
Lần đầu tiên thị trường chứng khoán được nâng hạng đồng thời Tổ chức Moody’s đã nâng triển vọng của Việt Nam từ mức “Ổn định” lên “Tích cực.” Cùng với đó, các tổ chức quốc tế đánh giá cao sức chống chịu và triển vọng tăng trưởng của Việt Nam. Đơn cử, IMF nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 8,2%; ADB nâng thêm 0,6 điểm%; WB dự báo Việt Nam tăng trưởng cao nhất khu vực Đông Á-Thái Bình Dương; AMRO nâng thêm 0,5 điểm %, cao nhất ASEAN+3; Brand Finance định giá thương hiệu quốc gia Việt Nam 462,28 tỷ USD, xếp 32/193 quốc gia.
Thủ tướng nhấn mạnh năm 2027 là năm tăng tốc, bứt phá, tạo đà, tạo thế, tạo lực để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Mục tiêu tập trung phấn đấu tăng trưởng từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; Tạo lập nền tảng cho mô hình phát triển mới của đất nước, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính; xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển; Huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; Tạo môi trường thuận lợi, phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế.

Trong đó, tăng trưởng GDP phấn đấu từ 10% trở lên; Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4,5%; GDP bình quân đầu người đạt 6.100 USD; Năng suất lao động xã hội bình quân tăng 8,6%; Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm 1-1,5%.
Thủ tướng Lê Minh Hưng cũng chỉ ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2027, tập trung thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Thực hiện hiệu quả Kết luận 18-KL/TW, Nghị quyết 19-NQ/TW, Kết luận 106-KL/TW, cụ thể hóa mục tiêu tăng trưởng thành kịch bản, chỉ tiêu, nhiệm vụ theo từng ngành, lĩnh vực, địa phương và thường xuyên cập nhật kịp thời.
Đồng thời, tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật, nâng cao chất lượng, tạo chuyển biến rõ nét trong tổ chức thực thi; Đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng lực nội tại, tính độc lập, tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế; Phát triển đồng bộ, hiện đại kết cấu hạ tầng chiến lược, nhất là các dự án quan trọng, trọng điểm, liên vùng; Phát triển đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo Nghị quyết 57-NQ/TW, tạo thêm động lực mới cho tăng trưởng...
Cuối cùng là nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, để tổ chức thực hiện không còn là khâu yếu, các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là người đứng đầu phải đề cao trách nhiệm, tăng cường công tác phối hợp, đưa các chủ trương, chính sách của Trung ương vào thực tiễn của ngành, lĩnh vực, địa phương mình; Khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm.
Dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2027
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, năm 2027 là năm tăng tốc, bứt phá, tạo đà, tạo thế, tạo lực để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Tập trung phấn đấu tăng trưởng từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Tạo lập nền tảng cho mô hình phát triển mới của đất nước, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính; xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; tạo môi trường thuận lợi, phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế. Phát triển hài hòa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân; củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Các chỉ tiêu chủ yếu: Trong 45 chỉ tiêu phát triển KTXH có: 1) Tăng trưởng GDP phấn đấu từ 10% trở lên; 2) Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4,5%; 3) GDP bình quân đầu người đạt 6.100 USD; 4) Năng suất lao động xã hội bình quân tăng 8,6%; 5) Tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm 1-1,5%.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2027 như sau:
1) Tập trung thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Thực hiện hiệu quả Kết luận 18-KL/TW, Nghị quyết 19-NQ/TW, Kết luận 106-KL/TW, cụ thể hóa mục tiêu tăng trưởng thành kịch bản, chỉ tiêu, nhiệm vụ theo từng ngành, lĩnh vực, địa phương và thường xuyên cập nhật kịp thời. Kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thông qua phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác. Tạo đột phá trong huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, trong đó: (1) Phấn đấu tăng thu NSNN khoảng 9,1%, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; (2) Đa dạng hóa nguồn vốn thông qua: phát hành các loại hình trái phiếu; vay ODA; huy động nguồn vốn tín dụng, nguồn lực tư nhân; tăng đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước; khuyến khích doanh nghiệp FDI tái đầu tư lợi nhuận tại Việt Nam; (3) Phát triển thị trường vốn trung và dài hạn; phấn đấu nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, thu hút các quỹ đầu tư quốc tế và dòng vốn gián tiếp nước ngoài dài hạn, ổn định...
Tiếp tục điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp; có các giải pháp quyết liệt, hiệu quả giảm lãi suất cho vay, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, khoa học công nghệ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính - NSNN; Tiếp tục rà soát, đơn giản hóa quy trình, thủ tục đầu tư. Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, phân bổ vốn theo kết quả đầu ra, gắn với hạch toán KTXH, giải ngân 100% vốn đầu tư công. Điều chuyển vốn từ nơi giải ngân thấp sang nơi giải ngân tốt, cần bổ sung vốn. Có giải pháp hiệu quả cải thiện chỉ số ICOR. Phát triển mạnh thị trường trong nước; Tận dụng tối đa các FTA đã ký; đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu; Tăng cường trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp để bảo đảm an ninh năng lượng, cung ứng đủ điện, xăng dầu trong mọi tình huống gắn với triệt để tiết kiệm điện, năng lượng.

2) Tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật, nâng cao chất lượng, tạo chuyển biến rõ nét trong tổ chức thực thi. Tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung, đồng bộ hóa hệ thống văn bản pháp luật; xử lý quy định mâu thuẫn, chồng chéo; không để chậm, nợ ban hành văn bản hướng dẫn; bổ sung đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Tiếp tục rà soát, cắt giảm triệt để, đơn giản hoá thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; Vận hành hiệu quả chính quyền địa phương 2 cấp theo Kết luận 76-KL/TW; Hoàn thành xử lý nhà, đất dôi dư, không để hư hỏng, xuống cấp, lãng phí. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thay thế ngay cán bộ đùn đẩy, né tránh, không hoàn thành nhiệm vụ.
3) Đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng lực nội tại, tính độc lập, tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế. Phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước; ưu tiên phát triển công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ.... Cơ cấu lại nông nghiệp theo chuỗi giá trị, nâng cao chất lượng chế biến. Hình thành các trung tâm dịch vụ, logistics hiện đại, các khu kinh tế đặc biệt; phát triển các ngành kinh tế biển mới, công nghiệp hàng hải quốc gia, công nghiệp đóng tàu. Phát triển mạnh thương hiệu quốc gia. Đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Thực hiện hiệu quả Nghị quyết 79-NQ/TW, cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn. Tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển theo Nghị quyết 68-NQ/TW, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ "doanh nghiệp một người", hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, tiên phong, cạnh tranh quốc tế. Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo Nghị quyết 10-NQ/TW, thu hút FDI có chọn lọc gắn với chuyển giao công nghệ, liên kết thực chất với doanh nghiệp Việt Nam. Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý nợ xấu, tổ chức tín dụng yếu kém, ngăn ngừa hiệu quả sở hữu chéo.
4) Phát triển đồng bộ, hiện đại kết cấu hạ tầng chiến lược, nhất là các dự án quan trọng, trọng điểm, liên vùng. Hoàn thiện mạng lưới đường bộ cao tốc, đường ven biển, các tuyến đường vành đai kết nối liên vùng. Phát triển hệ thống cảng biển, các tuyến vận tải thủy trọng yếu. Thúc đẩy các dự án đường sắt quan trọng quốc gia. Đẩy nhanh tiến độ các Cảng hàng không quốc tế Long Thành và Gia Bình. Xác định rõ số dự án tồn đọng kéo dài đã xử lý, chưa xử lý, số vốn thu về, số vốn tồn đọng để xử lý dứt điểm. Thực hiện hiệu quả Nghị quyết 70-NQ/TW, xây dựng chiến lược dự trữ năng lượng quốc gia; đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án nguồn, lưới truyền tải điện, đưa vào vận hành đúng quy hoạch, kế hoạch. Phát triển hạ tầng văn hóa, xã hội, thủy lợi, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tái cấu trúc, mở rộng không gian phát triển theo tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW.
5) Phát triển đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo Nghị quyết 57-NQ/TW, tạo thêm động lực mới cho tăng trưởng, chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, kết quả và giá trị cụ thể trong từng ngành, lĩnh vực; từng bước làm chủ công nghệ chiến lược, đẩy mạnh thương mại hóa. Thúc đẩy liên kết Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Triển khai cơ chế vận hành, dùng chung phòng thí nghiệm. Ưu tiên phát triển công nghệ mới cho kinh tế không gian tầm thấp, vật liệu mới… Phát triển mạnh hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, nền tảng dùng chung; vận hành hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia; phủ sóng 5G, thí điểm 6G. Hoàn thiện Cổng Dịch vụ công quốc gia.
6) Tạo chuyển biến thực chất, rõ nét về chất lượng giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo Nghị quyết 71-NQ/TW. Đổi mới mạnh mẽ quản trị giáo dục, nội dung, phương pháp dạy và học, thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng thực chất, giảm áp lực thi cử. Phát triển đội ngũ nhà giáo; giải quyết căn bản tình trạng thiếu trường, lớp, giáo viên; ưu tiên nguồn lực cho cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, hạ tầng số, phòng thí nghiệm. Bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời sách giáo khoa trước năm học 2027-2028. Đẩy mạnh giáo dục số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, STEM/STEAM, hướng nghiệp. Hoàn thành, đưa vào hoạt động toàn bộ các trường phổ thông nội trú liên cấp giai đoạn 2 trước ngày 30/8/2027, bảo đảm điều kiện vận hành sau khi đi vào hoạt động.
7) Tạo chuyển biến căn bản, thực chất về phát triển văn hóa, xã hội, y tế, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân. Triển khai hiệu quả Nghị quyết 80-NQ/TW; đẩy mạnh công nghiệp văn hóa; bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia hợp nhất. Thực hiện tốt chính sách người có công; tổ chức chu đáo các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; tập trung cao nhất cho Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Chủ động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân theo Nghị quyết 72-NQ/TW. Thực hiện khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí; củng cố y tế cơ sở, y tế dự phòng; tăng cường quản lý dược, thiết bị y tế. Đẩy nhanh phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, phấn đấu hoàn thành khoảng 176.000 căn hộ. Phát triển thị trường lao động, tăng kết nối cung - cầu, tạo việc làm bền vững.

8) Tạo chuyển biến căn bản trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu. Triển khai hiệu quả Nghị quyết 79-NQ/TW và Kết luận 83-KL/TW về phát triển công nghiệp vật liệu. Hoàn thiện, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, liên thông dữ liệu địa chất, khoáng sản; quản lý chặt chẽ khoáng sản chiến lược, đẩy mạnh chế biến sâu, không xuất khẩu thô. Tích cực triển khai Đề án 01 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tăng cường dự báo, cảnh báo, ứng phó thiên tai; chuẩn bị nguồn lực cho các tình huống khẩn cấp. Tập trung xử lý các điểm nóng về ô nhiễm môi trường.
9) Củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế, nhất là ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ. Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng, hiện đại. Giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia; xây dựng xã hội kỷ cương theo các Nghị quyết của Trung ương; ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh mới. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm; tăng cường phòng, chống cháy nổ.
Triển khai hiệu quả các Nghị quyết 06-NQ/TW và 59-NQ/TW về đối ngoại, hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hoá, đa dạng hoá; bám sát tình hình quốc tế, chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đẩy mạnh đối ngoại song phương, nâng tầm đối ngoại đa phương, tích cực tham gia giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới. Tập trung chuẩn bị, tổ chức tốt năm APEC 2027, góp phần quảng bá hình ảnh và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
10) Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện: Để tổ chức thực hiện không còn là khâu yếu, các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là người đứng đầu phải đề cao trách nhiệm, tăng cường công tác phối hợp, đưa các chủ trương, chính sách của Trung ương vào thực tiễn của ngành, lĩnh vực, địa phương mình; khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm. Xác định rõ những việc cần làm, những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá để thực hiện. Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm mỗi chủ trương, chính sách khi đi vào thực tiễn phải tạo ra chuyển biến rõ nét, đóng góp thiết thực vào sự phát triển của từng địa phương và đất nước.