Bổ sung nhiều điểm mới
Sáng 24/12, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Lê Thị Nga cho biết, quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết đã tổng hợp, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; tổng kết việc thực hiện các quy định về tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn và giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Hồ sơ dự thảo Nghị quyết đã kịp thời cụ thể hóa các yêu cầu của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân vừa được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10.

Dự thảo Nghị quyết đã được chỉnh lý, hoàn thiện trên cơ sở tiếp thu đầy đủ ý kiến góp ý của Chính phủ, các bộ, ngành liên quan, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và Thường trực Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố, nhằm bảo đảm kịp thời phục vụ việc tổ chức thi hành pháp luật ngay sau khi các luật sửa đổi có hiệu lực, đặc biệt là Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có hiệu lực từ ngày 1/5/2026.
Ủy ban Dân nguyện và Giám sát đã đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định cho phép áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong việc xây dựng, ban hành Nghị quyết và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua tại phiên họp này.
Về bố cục, dự thảo Nghị quyết gồm 7 chương; trong đó các chương 2, 3 và 4 được kết cấu thành từng mục, quy định riêng cho từng nhóm đối tượng cụ thể. Các chương 1, 5, 6 và 7 quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; chế độ thông tin, báo cáo; điều kiện bảo đảm; trách nhiệm của các cơ quan có liên quan và điều khoản thi hành.
Về nội dung, dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số vấn đề chủ yếu sau đây:
Một là, sửa đổi, bổ sung trách nhiệm xử lý đơn của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội gắn với giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc lĩnh vực phụ trách; bổ sung quy định nhằm hạn chế việc xử lý đơn trùng lặp, gửi lòng vòng trong các cơ quan của Quốc hội; đồng thời điều chỉnh thẩm quyền, trách nhiệm của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương mới.
Hai là, bổ sung quy định về tiếp công dân trực tuyến, trách nhiệm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Ba là, quy định cụ thể thẩm quyền giám sát, theo đó: Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở Trung ương; Hội đồng nhân dân, các cơ quan của Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương cùng cấp; Trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội giám sát hoạt động của các chủ thể khác ở trung ương và địa phương; Hội đồng nhân dân, các cơ quan của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giám sát hoạt động của các chủ thể khác ở địa phương.

Bốn là, bổ sung quy định về việc kiến nghị chủ thể có thẩm quyền thực hiện giám sát trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không giải quyết, không trả lời hoặc khi không đồng ý với kết quả giải quyết, trả lời; qua đó gắn trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết, trả lời các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh do các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân chuyển đến.
Năm là, quy định cụ thể cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin trong xử lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nhằm bảo đảm phân cấp, phân quyền nhưng vẫn có sự liên thông, đồng bộ trong hoạt động giám sát; đồng thời bổ sung quy định về nguồn tiếp nhận đơn và điều kiện xử lý đơn để khắc phục tình trạng trùng lặp, nhiều cơ quan cùng xử lý một vụ việc.
Sáu là, bổ sung quy định về chế độ, chính sách đối với đội ngũ công chức được giao nhiệm vụ tham mưu, giúp việc tại các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Hồ sơ dự thảo Nghị quyết cũng đã đánh giá cụ thể về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và tài chính hiện có, bảo đảm điều kiện thi hành Nghị quyết sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua.
Quy định rõ đối tượng áp dụng gắn với quy trình thực hiện xử lý đơn thư
Cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định đánh giá cao Ủy ban Dân nguyện và Giám sát đã xây dựng dự thảo Nghị quyết với nhiều điểm mới, “nâng tầm công tác dân nguyện, giám sát lên xứng đáng với vị trí một Ủy ban chuyên trách”.
Góp ý cụ thể, về đối tượng áp dụng, quy trình thực hiện xử lý đơn thư, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cho rằng cần phải cụ thể hoá hơn thay vì chỉ nói chung chung.
Phó Chủ tịch Quốc hội phân tích, khái niệm “đại biểu Quốc hội” không phải lúc nào cũng đồng nhất, bởi trong thực tế có đại biểu giữ chức vụ và đại biểu không giữ chức vụ, đại biểu chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm; đại biểu Hội đồng nhân dân cũng tương tự. Mỗi nhóm có vị trí, vai trò và trách nhiệm khác nhau, nên không thể quy định chung như nhau.
Trong đại biểu Quốc hội còn có nhiều chức danh cụ thể như: Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội… Mỗi chức danh gắn với thẩm quyền và lĩnh vực phụ trách riêng.
“Ví dụ, đơn thư gửi cho tôi với tư cách Phó Chủ tịch Quốc hội, hoặc gửi theo nội dung đồng chí phụ trách lĩnh vực này để kiến nghị, phản ánh, thì không thể xem đơn đó chỉ là gửi “đại biểu Quốc hội” theo nghĩa chung”. Dẫn chứng như vậy, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nêu rõ, nếu chỉ dùng thuật ngữ “đại biểu Quốc hội” sẽ là chưa đủ. Theo đó, cần cụ thể hóa đối tượng áp dụng theo các chức danh như: Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội (theo lĩnh vực phụ trách), Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban, Phó Chủ nhiệm Ủy ban…

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cũng góp ý, về Điều 4 việc tiếp công dân của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội hiện quy định “tiếp công dân khi xét thấy cần thiết” còn mang tính chung chung, khó áp dụng thống nhất. Đề nghị làm rõ theo hướng chỉ tiếp công dân đối với các nội dung thuộc đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được phân công và lĩnh vực phụ trách. Trường hợp không thuộc thẩm quyền thì từ chối tiếp hoặc trả lại đơn, đồng thời hướng dẫn công dân gửi đến cơ quan có thẩm quyền phù hợp.
Về việc tiếp công dân của đại biểu Quốc hội tại địa phương, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nêu rõ, trường hợp đại biểu Quốc hội tiếp công dân tại địa phương nào thì phải thông báo cho Đoàn đại biểu Quốc hội của địa phương đó, để Đoàn chủ trì bố trí địa điểm và tham gia phục vụ, bảo đảm sự phối hợp và quản lý thống nhất.
Về trách nhiệm của Ủy ban Dân nguyện, đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội phân cấp cho Ủy ban Dân nguyện ban hành các văn bản hướng dẫn về tiếp nhận, xử lý đơn và quy trình tiếp công dân, nhằm bảo đảm thống nhất trong toàn bộ Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội. Qua đó, tránh tình trạng mỗi cơ quan thực hiện theo một cách khác nhau, gây băn khoăn cho người dân khi cùng là cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng cách xử lý lại không thống nhất.
Về Điều 12, tiếp nhận đơn, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định đề nghị quy định cụ thể hình thức tiếp nhận đơn bằng phương thức điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Thực tế cho thấy, số lượng đơn gửi trực tiếp đến Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội không nhiều, mà chủ yếu gửi đến các đồng chí lãnh đạo. Vì vậy, cần bổ sung quy định đối với đơn gửi đến Đảng ủy Quốc hội để bảo đảm bao quát đầy đủ các trường hợp phát sinh.
Về các Điều 15, 16, 17 và 18, theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, cần thay cụm từ “đơn của” bằng “đơn gửi đến”, vì cách dùng “đơn của” là không chính xác, dễ gây hiểu nhầm đó là đơn do các đồng chí lãnh đạo soạn thảo, trong khi thực chất đây là đơn của công dân gửi đến các chức danh, cơ quan liên quan.
Về việc xử lý đơn thư, cần quy định rõ nguyên tắc: đơn thuộc thẩm quyền thì xem xét, giải quyết theo quy định; không thuộc thẩm quyền thì trả lại và nêu rõ lý do. Thực tiễn tại Ủy ban Pháp luật trước kia cho thấy, khi thực hiện trả lời đầy đủ tất cả các đơn, kể cả đơn từ chối vì không đúng thẩm quyền, thì số lượng đơn thư gửi đến đã giảm ngay khoảng 50%-60%.
Để hạn chế tối đa việc lưu đơn, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cũng đề nghị, đối với các đơn không đủ điều kiện xử lý (như đơn vô danh, không rõ nội dung, không đọc được), cần hủy ngay và lập biên bản, không cần lưu trữ một năm rồi mới hủy. Đối với các đơn đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết và không có căn cứ xem xét lại, nên trả lại đơn và chỉ lưu hồ sơ theo dõi việc đã trả lại, không lưu kéo dài. “Nguyên tắc chung là mọi đơn đều cần có phản hồi, để người dân nắm rõ kết quả xử lý và tránh tâm lý chờ đợi, khiếu kiện kéo dài”, Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Về Điều 33, xây dựng cơ sở dữ liệu, theo Phó Chủ tịch Quốc hội, cần thiết kế cụ thể hơn. Văn phòng Quốc hội chủ trì phối hợp xây dựng phần mềm dùng chung, có các thư mục riêng cho từng cơ quan và Ủy ban Dân nguyện là đầu mối theo dõi. “Việc này dứt khoát phải hoàn thành và vận hành mượt mà trong năm 2026. Với tư cách Trưởng ban Chuyển đổi số, tôi hứa sẽ cùng các cơ quan thực hiện phần mềm này đưa vào vận hành, ít nhất trong phạm vi nội bộ Quốc hội”, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh.
Khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập trong công tác tiếp nhận, xử lý đơn gửi đến Quốc hội
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết, tán thành việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành Nghị quyết; hồ sơ dự án bảo đảm đầy đủ tài liệu theo quy định để trình UBTVQH.
Về thẩm quyền, quy trình tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn của Thường trực HĐDT, Ủy ban của Quốc hội, qua thảo luận, trong Ủy ban Pháp luật và Tư pháp có 02 loại ý kiến.
Nhiều ý kiến tán thành với quy định của dự thảo Nghị quyết về việc cơ bản giữ thẩm quyền, quy trình tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư như quy định hiện hành. Theo đó, từng cơ quan tiếp nhận đơn được gửi đến cơ quan mình, sau đó phân loại và xử lý đơn thuộc lĩnh vực do mình phụ trách; đối với đơn không thuộc lĩnh vực phụ trách thì chuyển đến cơ quan phụ trách lĩnh vực đó để xử lý. Đơn gửi đến Quốc hội, UBTVQH thì Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát có trách nhiệm giúp UBTVQH tiếp nhận, nghiên cứu và xử lý (kể cả đơn thuộc lĩnh vực do HĐDT hoặc Ủy ban khác của Quốc hội phụ trách).

Phương án này có ưu điểm là công tác tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn của công dân gửi đến Quốc hội thuận lợi do được thực hiện theo quy trình ổn định, bám sát nhiệm vụ, quyền hạn theo lĩnh vực phụ trách của các cơ quan. Ngoài ra, đối với đơn thuộc lĩnh vực tư pháp, theo quy định của pháp luật thì Ủy ban Pháp luật và Tư pháp còn có thẩm quyền kiến nghị theo thủ tục đặc biệt để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, cho nên việc Ủy ban Pháp luật và Tư pháp xử lý đơn (trong đó có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm) còn giúp Ủy ban có đủ thông tin để thực hiện tốt thẩm quyền này. Hạn chế của phương án này là không khắc phục được tình trạng trùng lặp trong xử lý đối với đơn được đồng thời gửi đến nhiều cơ quan của Quốc hội. Do đó, trường hợp lựa chọn theo phương án này thì phải nghiên cứu để có giải pháp hạn chế tình trạng nêu trên.
Một số ý kiến đề nghị nên đổi mới mạnh mẽ tư duy trong tiếp nhận, xử lý đơn gửi đến Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội theo hướng chuyên môn hóa cao, tập trung vào một đầu mối là Ủy ban Dân nguyện và Giám sát (UBDN&GS). Theo đó, đơn của công dân gửi đến các cơ quan của Quốc hội sẽ được chuyển toàn bộ đến Thường trực UBDN&GS để tổ chức nghiên cứu, xử lý và giám sát việc giải quyết.
Phương án này có ưu điểm là khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập trong công tác tiếp nhận, xử lý đơn gửi đến Quốc hội, nhất là việc trùng lặp trong xử lý đơn; góp phần giảm tải công việc; giúp chuyên nghiệp hóa, nâng cao vị thế, vai trò của UBDN&GS; tạo thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ, thực hiện chuyển đổi số. Hạn chế của phương án này là tăng khối lượng công việc cho UBDN&GS; đồng thời, các cơ quan khác của Quốc hội do không còn thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận, xử lý đơn thuộc lĩnh vực phụ trách nên không nắm bắt được kịp thời, đầy đủ thông tin để phục vụ cho công tác xây dựng pháp luật và giám sát thi hành pháp luật.
Bên cạnh đó, cũng có ý kiến tán thành việc đổi mới theo hướng giao Thường trực UBDN&GS tiếp nhận toàn bộ đơn, phân loại để sàng lọc đơn trùng lặp, sau đó, chuyển các cơ quan của Quốc hội theo lĩnh vực phụ trách để xử lý chuyên sâu theo thẩm quyền.