Trường Sa bước vào mùa khô từ tháng Giêng đến tháng Năm. Đó là mùa tháng Tư đi biển, mùa trời cao trong vắt, biển xanh như được gột rửa qua một đêm dài, sóng êm đến mức con tàu lướt đi chỉ để lại phía sau một vệt trắng mỏng manh. Những chuyến tàu chở đoàn công tác khối Dân – Chính – Đảng nối nhau rẽ sóng ra thăm đảo. Người từ đất liền mang theo hơi thở phố phường, tiếng cười trẻ nhỏ, những cái bắt tay siết chặt.

Mùa này, Trường Sa đẹp đến nao lòng. Buổi sáng, mặt trời nhô lên như một đóa hoa đỏ rực nở trên đường chân trời. Buổi chiều, hoàng hôn rơi xuống lòng biển thành những vệt tím hồng. Nhưng phía sau bức tranh ấy là những can nước được chắt chiu từng lít. Không mưa. Nước ngọt trở thành tài sản quý giá nhất. Những tháng cuối mùa, khẩu phần chỉ còn 5 lít một người mỗi ngày, đủ cho ăn uống, sinh hoạt tối thiểu. Giữa mênh mông nước mặn, người lính học cách quý từng giọt trong veo như giữ một báu vật. Mùa khô vì thế là mùa của nắng đẹp và của sự tiết kiệm lặng thầm.
Rồi tháng Sáu đến, Trường Sa bước vào mùa mưa. Mưa không chỉ làm dịu đi cái nắng khắc nghiệt mà còn mang lại sự hồi sinh cho đảo. Cây phong ba, bàng vuông, tra biển vươn cành xanh tốt. Những bàn tay rắn rỏi của cán bộ, chiến sĩ lại tất bật trồng thêm cây mới, gieo thêm bóng mát cho mai này.

Tháng Bảy là mùa thay thu quân giữa năm. Ở đất liền, đó có thể chỉ là một mốc thời gian. Nhưng giữa biển khơi, đó là khoảnh khắc của chia tay và bắt đầu. Những chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ trở về bờ, mang theo trong tim mùi gió mặn và tiếng sóng đêm. Những gương mặt trẻ măng bước xuống cầu tàu, ánh mắt rạng rỡ xen lẫn chút bỡ ngỡ. Con tàu thay quân đi giữa mùa mưa bão, phía trước là mây đen, là những đợt sóng đập vào mạn tàu chan chát. Nhưng sau lưng họ là Tổ quốc. Mùa mưa vì thế là mùa của sinh sôi và tiếp nối.
Tháng Chạp, khi gió mùa Đông Bắc tràn về, Trường Sa bước vào mùa sóng. Sóng không còn hiền hòa mà dựng đứng như những bức tường nước. Biển gầm lên suốt đêm, gió rít qua từng ô cửa. Đây là mùa thay thu quân cuối năm, thường trước Tết cổ truyền chừng một tháng. Những người lính trẻ lại lên đường, đối diện với biển động để ra thay đồng đội.

Có những ngày tàu phải neo xa, bộ đội chuyển tải bằng xuồng nhỏ, từng chuyến một, giữa sóng lừng cao ngất. Người ở lại đứng trên cầu cảng, mắt dõi theo cho đến khi bóng tàu chỉ còn là một chấm nhỏ nơi chân trời. Mùa sóng là mùa thử thách, nơi ý chí con người va đập trực diện với thiên nhiên khắc nghiệt, để rồi lặng lẽ chứng minh rằng lòng người có thể vững hơn mọi con nước.
Rồi Tết đến. Nếu Tết đất liền là sum họp, là mâm cơm đủ đầy bên gia đình thì Tết Trường Sa là Tết xa quê. Trên đảo, cành đào được kết từ giấy màu, bánh chưng gói trong tiếng cười của lính trẻ. Mâm cỗ có thể giản dị nhưng câu chúc năm mới thì tròn đầy. Đêm giao thừa, giữa tiếng sóng và tiếng gió, người lính hướng mắt về hướng Tây, hướng đất liền, nơi có mái nhà thân thuộc.

Có những chiến sĩ bước chân xuống tàu đúng những ngày cuối năm, rời xa vòng tay mẹ để đến với những hòn đảo xa xôi nhất của Tổ quốc. Họ đón xuân đầu tiên giữa biển, lớn thêm một tuổi đời và cả một tuổi lính. Mùa Tết ở Trường Sa vì thế còn được gọi là mùa của trưởng thành.
Nhưng nếu trời có bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, đất có bốn phương Đông – Tây – Nam – Bắc, người có bốn đức Cần – Kiệm – Liêm – Chính như lời Bác dạy, thì Trường Sa có năm mùa hoa trên sóng. Mùa thứ năm không nằm trên lịch, không bắt đầu vào một tháng cụ thể nào. Đó là mùa thương nhớ, mùa kéo dài suốt cả năm.

Mỗi chuyến tàu ra đến vùng biển, đảo đều có một nghi lễ trang nghiêm giữa trùng khơi: lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Khi vòng hoa thả xuống, sóng khẽ nâng đỡ rồi ôm lấy vào lòng biển. Giữa không gian mênh mông ấy, con người bỗng thấy mình nhỏ bé, lòng đầy lên những xúc cảm khó gọi thành tên.
Anh Trần Thành – Chủ tịch Hội Biển, đảo Việt Nam, đã có 12 lần đến Trường Sa vào đủ mọi mùa trong năm. Thành kể rằng, trong mỗi hải trình, ông luôn dành nhiều thời gian cho thiên nhiên biển, đảo và cho những thân phận người lính, từ lính đảo đến thủy thủ tàu, từ sĩ quan đến người dân sinh sống trên đảo. Sau mỗi chuyến đi, ông lại tìm về thăm gia đình những người lính ấy, đặc biệt là các mẹ liệt sĩ ở Đà Nẵng, hay chị Trần Thị Thủy, con gái anh hùng liệt sĩ Trần Văn Phương, Chỉ huy phó đảo Gạc Ma năm nào.

Những người mẹ mất con, những người con chưa từng biết mặt cha, vẫn vươn lên mạnh mẽ bằng chính ký ức thiêng liêng về người đã ngã xuống. Ký ức ấy không chỉ là nỗi đau, mà còn là sức mạnh. Trong cuốn sách “Biển của lòng người”, Trần Thành dành riêng một chương viết về “Mùa thương nhớ” như một nén tâm nhang gửi đến các anh hùng liệt sĩ.
Mùa thương nhớ ở Trường Sa không có mưa nắng phân chia. Nó hiện diện trong ánh mắt người lính đứng gác đêm, trong tiếng chuông chùa ngân giữa biển, trong mỗi cột mốc chủ quyền in bóng xuống làn nước xanh thẳm. Đó là mùa của tri ân, của lặng thầm, biết ơn quá khứ để thêm vững vàng cho hôm nay.

Năm mùa hoa trên sóng, năm mùa của nắng đẹp, mưa nguồn, sóng dữ, Tết xa quê và thương nhớ. Giữa biển trời Tổ quốc, Trường Sa nở hoa không chỉ bằng sắc màu của bàng vuông hay phong ba, mà bằng chính trái tim của những con người đang ngày đêm canh giữ. Và khi con tàu rời đảo, mỗi người mang theo trong lòng một mùa riêng của mình để rồi khi trở về đất liền, vẫn nghe đâu đó tiếng sóng vỗ nhịp giữa tim.