Nguồn cung xăng dầu trong nước tháng Tư như thế nào, đặc biệt là nguồn cung cho sản xuất kinh doanh là vấn đề được Nhân dân đặc biệt quan tâm.
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 3/2026, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân thông tin: Liên quan đến nguồn cung xăng dầu, xung đột quân sự ở khu vực Trung Đông từ ngày 28/2 đang tiếp tục leo thang căng thẳng, đến nay đã gây ra nhiều hệ lụy, đặc biệt là nguồn cung xăng dầu cũng như nguồn cung năng lượng khí.

Từ đầu tháng 3/2026, Bộ Chính trị, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công Thương xây dựng 2 kịch bản điều hành xăng dầu gồm: Kịch bản dưới 4 tuần (trong tháng Ba) và kịch bản dài hơn 4 tuần (có thể là kéo dài đến cuối tháng Tư).
Về phương án điều hành cung cầu và giá xăng dầu, Bộ Công Thương đảm bảo thực hiện theo 5 nguyên tắc: Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Đảm bảo an ninh năng lượng, đảm bảo nguồn cung xăng dầu; Cập nhật tình hình giá thị trường thế giới để điều hành giá xăng dầu phù hợp với diễn biến thực tiễn; Đánh giá tác động đến người dân và các ngành bị ảnh hưởng, đánh giá tác động đến các giải pháp thực hiện "mục tiêu kép"; Đảm bảo giá cả ổn định, hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Trên thực tế, Bộ Công Thương đã tham mưu Chính phủ ban hành 2 nghị quyết (Nghị quyết số 36 và Nghị quyết số 55) liên về điều hành năng lượng. Bộ Công Thương cũng phối hợp với Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ ban hành Nghị quyết tạm ứng ngân sách cho Quỹ bình ổn giá xăng dầu (Quỹ BOG) để tiếp tục thực hiện bình ổn giá mặt hàng xăng, dầu. Kết quả, nguồn cung xăng dầu đến hết tháng Ba, sản lượng khai thác đã tăng 10%. Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất đến hết tháng Tư và tháng Năm. Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất đến hết tháng Tư.
Thứ trưởng Nguyễn Nhật Sinh cho biết: Đặc biệt trong tháng Ba, các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu đã nhập khẩu các sản phẩm xăng dầu đạt khoảng 3,2 triệu m3 cùng với tồn kho trong nước hiện đang ở mức cao khoảng 2,6-2,8 triệu m3. Bộ Công Thương khẳng định, nguồn cung xăng dầu trong nước hiện đủ đảm bảo cho sản xuất và tiêu dùng đến hết tháng 4/2026. Bộ Công Thương đang nỗ lực điều hành và xây dựng kịch bản cho các tháng tiếp theo.

Về giải pháp, Bộ Công Thương đã và đang thực hiện đồng loạt nhiều nhóm giải pháp gồm: Tiếp tục tăng cường năng lực sản xuất trong nước; Đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và nguồn nhập khẩu; Phát triển thêm các nguồn năng lượng tái tạo như xăng sinh học E5; Nâng cao năng lực dự trữ và quản trị rủi ro gồm cả dự trữ quốc gia và dự trữ thương mại; Tăng cường ứng dụng công nghệ, phân tích dữ liệu, dự báo và điều hành thị trường.
Dự báo tiêu thụ điện mùa hè năm nay sẽ tăng cao kỷ lục, liệu có xảy ra tình trạng thiếu điện hay không?
Đại diện Bộ Công Thương, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết: Chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, và báo cáo của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ tại cuộc họp Chính phủ sáng nay đã thể hiện rất rõ quan điểm của Chính phủ. Đó là không để thiếu điện. Tuyệt đối không được để thiếu điện.
Đây là một mục tiêu vô cùng khó khăn nhưng chúng ta phải cố gắng đạt được. Để chuẩn bị cho cung ứng điện năm 2026, như mọi năm, Bộ Công Thương cũng đã phê duyệt phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia năm 2026 tại Quyết định số 3477/QĐ-BCT ngày 28/11/2025. Theo đó, riêng đối với các tháng cao điểm mùa khô, Bộ Công Thương đã chuẩn bị các phương án dự phòng để điều hành với mức tăng trưởng phụ tải điện lên tới 14,1%. Và theo phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia, trong tháng Tư này, tăng trưởng điện dự kiến khoảng 6,07% so với cùng kỳ năm 2025.
Luỹ kế cả năm, tổng sản lượng điện toàn hệ thống quốc gia ước đạt làm tròn khoảng 350 tỷ kWh và tăng trưởng khoảng 7,92% so với năm 2025. Đấy là theo phương án điều hành đã được phê duyệt tại Quyết định 3477/QĐ-BCT.

Cho đến nay, trong 3 tháng vừa rồi, có thể nói việc cung ứng điện đã được đảm bảo. Tăng trưởng phụ tải thực tế 3 tháng vừa qua đã đạt mức 6,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Thứ trưởng cung cấp các giải pháp Bộ Công Thương cũng đã thực hiện gồm: Thứ nhất là bám sát, theo dõi, dự báo. Bên cạnh đó là kiểm tra để chuẩn bị cho các phương án. Ngay trong quý I vừa qua, các đơn vị chức năng thuộc Bộ Công Thương đã tổ chức các đoàn công tác làm việc với các đơn vị để rà soát công tác chuẩn bị bảo đảm cung ứng điện. Kết quả kiểm tra cho thấy, các tập đoàn, tổng công ty và các đơn vị có liên quan đã chủ động chuẩn bị đầy đủ phương án đảm bảo cung ứng điện; rà soát, kiểm tra, bảo dưỡng thiết bị, xử lý các khiếm khuyết nếu có và thực hiện các giải pháp nâng cao độ tin cậy vận hành, ứng dụng công nghệ giám sát thiết bị và vận hành theo tình trạng, chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị dự phòng, tăng cường kiểm tra cả các điểm xung yếu.
Với sự tập trung chỉ đạo của Chính phủ, sự hướng dẫn của Bộ Công Thương, và sự chuẩn bị đầy đủ, đại diện Bộ Công Thương tin tưởng rằng, việc cung ứng điện cả năm 2026 sẽ được đảm bảo.
Vấn đề sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu lúa gạo

Tại họp báo Chính phủ thường kỳ, chiều 4/4, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cung cấp các thông tin: Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, có 3,85 triệu ha đất lúa nhưng bây giờ chỉ còn 3,1 triệu ha. Năm 2025 đã đạt 43,5 triệu tấn thóc và 3 tháng đầu năm 2026 đạt 3,64 triệu tấn (giảm 5,5%).
Vậy 43,5 triệu tấn này được giải quyết như thế nào? 14 triệu tấn là tiêu dùng cho hơn 100 triệu dân cộng với khoảng 20 triệu lượt khách du lịch. Khoảng 7-9 triệu tấn dành cho chế biến. Dự trữ, kể cả trong dân, khoảng 3 triệu tấn; chăn nuôi khoảng 3,4 triệu tấn; và giống khoảng 1 triệu tấn. Năm ngoái, xuất khẩu đạt 7,9 triệu tấn, thu về trên 4,7 tỷ USD.
Trước ảnh hưởng từ tình hình Trung Đông, giá xăng dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tăng, giá lúa thấp hơn so với năm 2023. Ngày 11/3 vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg nhưng từ trước đó chúng ta đã tập trung vào một số công việc rất ổn định và cơ bản như sau:
Trong 3 tháng qua, mặc dù chịu áp lực quốc tế rất phức tạp và khó khăn, nhưng ngành nông nghiệp vẫn tăng trưởng 3,58%. Sản lượng lúa gạo là 3,64 triệu tấn; chăn nuôi đạt 2,28 triệu tấn thịt, tăng 4,9%; thủy sản đạt 2,7 triệu tấn, tăng 3,3%; lâm nghiệp đạt 12 triệu khối gỗ, tăng trên 3%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9%, thặng dư thương mại là 4,78 tỷ USD, tăng 12%.
Thứ nhất, về chương trình khoa học công nghệ, mặc dù 85% đến 89% giống lúa của chúng ta là lúa chất lượng cao, nhưng trong bối cảnh xuất khẩu cạnh tranh, không thể không tiếp tục nâng cao chất lượng. Vẫn phải có một chương trình khoa học công nghệ, trong đó tập trung vào những yếu tố: thời gian sinh trưởng ngắn ngày, thu hoạch nhanh; chất lượng cao. Điều này đã được thực hiện trong nhiều năm. Hiện nay, trong luân canh, lúa gạo vẫn được đặt lên ưu tiên hàng đầu.
Tiếp theo là việc xây dựng cơ sở dữ liệu và chuyển đổi số, đang được triển khai rất quyết liệt.
Một việc nữa là phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, giảm phát thải. Riêng việc giảm phát thải không chỉ làm ở 1 triệu ha, sắp tới sẽ có cơ sở thực tiễn và cơ sở khoa học để triển khai ở cả Đông Nam Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Trung du miền núi phía bắc, Đồng bằng sông Hồng và trên phạm vi toàn quốc để chúng ta có tiến trình giảm phát thải, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 theo cam kết tại COP26.
Về quy trình canh tác, chúng ta áp dụng quy trình "3 giảm 3 tăng", giảm chi phí sản xuất, ưu tiên sử dụng phân hữu cơ và giảm phân vô cơ.

Một vấn đề nữa là giãn vụ. Thường có một bất cập là cứ vào vụ, bà con thì nông dân lại cùng mua giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nên giá đắt; cùng thu hoạch và cùng bán thì giá lại rẻ. Cho nên, phải cho dự trữ vật tư nông nghiệp để điều tiết thị trường mùa vụ. Thời gian vừa qua, việc này đã làm rất tốt. Trong năm 2024, đã có 3 lần xuất dự trữ giống lúa, lần cuối cùng là 110 tỷ đồng.
Về giải pháp kỹ thuật, bao gồm phòng chống dịch bệnh trên đồng ruộng, hệ thống thủy lợi, và tất cả những yếu tố khác để chúng ta vừa có chất lượng cao, vừa có quy trình canh tác hiệu quả, vừa có thuốc bảo vệ thực vật phù hợp, nhằm có giá thành thấp để có thể cạnh tranh được khi xuất khẩu. Đây là những giải pháp cơ bản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Các địa phương trên cơ sở chỉ đạo của Chỉ thị 21 đã triển khai rất tích cực, trong đó quan trọng nhất là đánh giá vụ. Các tỉnh, thành phố cũng đã liên kết với các doanh nghiệp để hỗ trợ thu mua, dự trữ, chế biến, chế biến sâu đưa ra thị trường, nhằm tạo dựng một hệ sinh thái giải quyết lúa gạo một cách bền vững.