Dự và phát biểu tại Đại hội, đồng chí Trần Thắng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ghi nhận những đóng góp của Hội trong nhiệm kỳ qua, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đưa hoạt động văn học nghệ thuật về cơ sở, phát hiện và bồi dưỡng lực lượng sáng tác trẻ, bảo tồn tiếng nói, chữ viết, di sản văn hóa các dân tộc và đẩy mạnh chuyển đổi số để những giá trị đặc sắc ấy đến gần hơn với công chúng, nhất là thế hệ trẻ.

Tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031 có các đồng chí: Tạ Quang Đông, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; PGS.TS, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Trần Thị Phương Lan, Vụ trưởng Vụ Văn hóa văn nghệ Ban Tuyên giáo Trung ương; cùng đại diện các cơ quan Trung ương; Lãnh đạo các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành trung ương cùng 475 đại biểu, đại diện cho hơn 1.000 hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số có vị trí đặc biệt trong nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Đặc biệt, đây không chỉ là lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, đồng thời còn là một phương thức lưu giữ ký ức, tiếng nói, tâm hồn, phong tục, tri thức và những cách ứng xử đã được cộng đồng trao truyền qua nhiều thế hệ. Qua văn học, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, điện ảnh, múa và nghiên cứu văn hóa, những sắc thái riêng của các dân tộc được nhận diện, gìn giữ và hòa vào dòng chảy chung của văn hóa dân tộc.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, đời sống kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều chuyển biến, yêu cầu đối với văn học nghệ thuật cũng đang thay đổi. Không chỉ phản ánh những giá trị truyền thống, tác phẩm hôm nay cần nhận diện được những vấn đề mới của cộng đồng: sự thay đổi sinh kế, quá trình đô thị hóa, chuyển đổi số, giao lưu văn hóa, biến đổi môi trường sống, khát vọng vươn lên của thế hệ trẻ và quá trình gìn giữ bản sắc trong điều kiện hiện đại.

Đó chính là lý do hoạt động của Hội không thể chỉ dừng ở việc tạo ra tác phẩm, mà phải hướng tới việc làm cho văn học nghệ thuật thực sự sống trong cộng đồng. Nhìn lại nhiệm kỳ qua, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã duy trì hoạt động sáng tác, nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật, lý luận, phê bình và giới thiệu tác phẩm. Hội tổ chức 31 trại sáng tác với hơn 620 lượt hội viên tham dự, trong đó có 6 trại dành cho tác giả trẻ; đồng thời tổ chức các chuyến đi thực tế tại nhiều địa phương để văn nghệ sĩ tiếp cận trực tiếp với đời sống.
Những con số này cần được nhìn không chỉ dưới góc độ số lượng hoạt động. Giá trị quan trọng hơn là việc tạo ra một cơ chế để văn nghệ sĩ trở về với cơ sở, tìm kiếm chất liệu từ đời sống và đối thoại trực tiếp với cộng đồng. Bởi văn học nghệ thuật về dân tộc thiểu số chỉ có sức thuyết phục khi được hình thành từ sự hiểu biết sâu sắc về con người, không gian văn hóa và những biến đổi thực tế đang diễn ra.

Phát biểu tại Đại hội, Phó Chủ tịch Trần Thắng ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực và kết quả Hội đạt được trong nhiệm kỳ qua; đồng thời nhấn mạnh Đảng và Nhà nước luôn xác định công tác dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, trong đó bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ quan trọng.
Từ đó, yêu cầu đặt ra đối với văn học nghệ thuật không chỉ là bảo tồn những gì đã có, mà phải sáng tạo những giá trị mới trên nền tảng văn hóa truyền thống. Bảo tồn không thể chỉ là lưu giữ trong sách, kho tư liệu hay bảo tàng. Một giá trị văn hóa chỉ thực sự có sức sống khi tiếp tục được cộng đồng thực hành, thế hệ trẻ tiếp nhận, văn nghệ sĩ chuyển hóa thành những hình thức biểu đạt mới và công chúng đương đại có cơ hội tiếp cận.

Đây là một nhận thức quan trọng, bởi nếu chỉ nhìn bảo tồn như việc giữ nguyên thì văn hóa dễ bị tách khỏi đời sống. Ngược lại, nếu biết phát huy bản sắc như một nguồn chất liệu sáng tạo, văn hóa truyền thống có thể tiếp tục vận động cùng xã hội.
Với Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, điều đó đòi hỏi trước hết phải xây dựng Hội thực sự là nơi hội tụ, gắn kết và nâng đỡ đội ngũ văn nghệ sĩ, nghệ nhân các dân tộc. Phó Chủ tịch Trần Thắng đề nghị Hội quan tâm phát hiện, bồi dưỡng tài năng mới, nhất là văn nghệ sĩ và nghệ nhân trẻ; chú trọng đội ngũ đang sinh sống, công tác và sáng tác tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới. Đây là những nơi lưu giữ nguồn chất liệu văn hóa phong phú, đồng thời cũng là những địa bàn chịu tác động mạnh của quá trình biến đổi xã hội.
Vì vậy, việc đầu tư cho lực lượng trẻ không chỉ nhằm tạo thêm những tác giả mới. Đặc biệt, đó là đầu tư cho khả năng tự kể câu chuyện văn hóa của cộng đồng bằng tiếng nói của chính thế hệ đang sống trong cộng đồng ấy. Một người trẻ dân tộc thiểu số sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ, sử dụng chất liệu dân gian trong một tác phẩm âm nhạc mới, kể câu chuyện bản làng qua nhiếp ảnh, điện ảnh hay văn học có thể tạo ra một cách tiếp cận khác đối với di sản. Truyền thống khi ấy không còn đứng ngoài đời sống hiện đại mà trở thành một phần của quá trình sáng tạo đương đại.
Cùng với con người, Phó Chủ tịch Trần Thắng đặc biệt lưu ý yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số. Số hóa tư liệu, tác phẩm, hình ảnh, âm nhạc, văn học dân gian và tri thức bản địa không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật. Đó là phương thức mở rộng khả năng bảo tồn và truyền bá văn hóa trong một môi trường mà cách công chúng, nhất là người trẻ, tiếp nhận thông tin đang thay đổi nhanh chóng, như: (1) Một tác phẩm được số hóa, giới thiệu bằng hình thức phù hợp và xuất hiện trên các nền tảng mà giới trẻ thường xuyên sử dụng sẽ có cơ hội vượt khỏi phạm vi một địa phương. (2) Một kho tư liệu dân gian được tổ chức khoa học có thể trở thành nguồn tài nguyên cho nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo. (3) Một câu chuyện văn hóa được kể bằng video, podcast, ảnh số hay sản phẩm đa phương tiện có thể tạo ra cách tiếp cận gần gũi hơn với công chúng.

Tuy nhiên, chuyển đổi số không thể thay thế chất lượng sáng tác. Công nghệ chỉ mở rộng cánh cửa tiếp cận; sức sống lâu dài của tác phẩm vẫn phụ thuộc vào chiều sâu tư tưởng, giá trị nghệ thuật và mức độ chân thực của đời sống được phản ánh.
Vì vậy, hướng hoạt động về cơ sở phải trở thành một yêu cầu xuyên suốt nhiệm kỳ mới. Văn nghệ sĩ cần có điều kiện sống cùng cộng đồng, quan sát những đổi thay từ bên trong, phát hiện những con người và câu chuyện mới, từ đó tạo nên tác phẩm vừa có bản sắc, vừa có giá trị nghệ thuật và sức lan tỏa xã hội.

Đại hội lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, với tinh thần “Đoàn kết - Bản sắc - Đổi mới - Phát triển”, đã đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu, dịch thuật và quảng bá văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa VII gồm 18 thành viên, Ban Thường vụ gồm 7 thành viên; Nghệ sĩ nhiếp ảnh Mã Thế Anh, Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, được bầu giữ chức Chủ tịch Hội nhiệm kỳ 2026-2031.

Sự kiện này mở ra một nhiệm kỳ mới với yêu cầu không nhỏ, đó là tiếp tục giữ vững đoàn kết trong đội ngũ, đồng thời đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động; không chỉ chăm lo số lượng tác phẩm mà chú trọng chất lượng, sức lan tỏa và khả năng tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra từ đời sống.
Từ Đại hội VII, điều cần hướng tới không chỉ là có thêm những tác phẩm viết về các dân tộc thiểu số, mà đặc biệt là có những tác phẩm thật sự được sinh ra từ đời sống của cộng đồng, mang tiếng nói và tâm hồn của cộng đồng, đồng thời có khả năng đối thoại với công chúng rộng lớn hơn. Khi văn nghệ sĩ bám rễ vào cơ sở, người trẻ được trao cơ hội sáng tạo, tiếng nói và chữ viết dân tộc được nuôi dưỡng, di sản được số hóa và tác phẩm được mở rộng không gian tiếp cận, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số sẽ thực hiện tốt hơn sứ mệnh của mình: Giữ gìn ký ức văn hóa, phản ánh hiện thực hôm nay và góp phần kiến tạo những giá trị tinh thần cho tương lai.