Nhận diện những “điểm nghẽn” trong công tác cán bộ sau sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy
Bên cạnh những kết quả nổi bật đã đạt được, thực tiễn vận hành mô hình hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp còn một số vướng mắc, bất cập, mâu thuẫn chồng chéo trong các quy định liên quan đến hoạt động của bộ máy mới, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác cán bộ, nhất là ở cấp cơ sở, trở thành những “điểm nghẽn” cần phải giải quyết và khắc phục nhanh chóng.

Một là, cơ cấu tổ chức bộ máy làm việc mới hiện nay đang gây ra tình trạng quá tải và áp lực đối với đội ngũ cán bộ, nhất là ở cấp cơ sở. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp là việc rất khó, thực hiện trên phạm vi cả nước trong thời gian tương đối ngắn, với yêu cầu rất cao, nên có một số nơi vẫn còn lúng túng, thiếu đồng bộ trong tổ chức thực hiện.
Nhiều nhiệm vụ của các bộ, ban, ngành được hợp nhất; chức năng, nhiệm vụ của cấp huyện được chuyển giao xuống cấp xã nhưng chưa đi kèm với việc tái thiết kế quy trình làm việc, phân bổ lại nguồn lực và điều chỉnh biên chế tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Theo cơ cấu tổ chức hiện nay, chính quyền cấp cơ sở chỉ còn hai phòng chuyên môn là Phòng Kinh tế và Phòng Văn hóa - xã hội, song mỗi phòng lại đảm nhiệm khối lượng công việc tương đương từ 5 đến 7 sở, ngành cấp tỉnh, vừa chịu sự hướng dẫn chuyên môn của các sở, vừa trực tiếp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương.
Khối lượng công việc gia tăng nhanh chóng, trong khi điều kiện bảo đảm chưa theo kịp, đã khiến áp lực công việc đối với cán bộ cơ sở ngày càng lớn. Hiện nay, chính quyền cơ sở phải thực hiện khoảng 1.084 nhiệm vụ [1] lớn, nhỏ khác nhau; đòi hỏi đội ngũ cán bộ cơ sở tiếp tục cập nhật công việc mới khi chuyển giao, trong khi năng lực chuyên môn, thời gian và nguồn lực còn hạn chế. Thực tế ở nhiều địa phương cho thấy cán bộ phải “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm” nên dẫn đến quá tải trong xử lý công việc.
Bên cạnh đó, số lượng hồ sơ hành chính sau sáp nhập tăng mạnh, chủ yếu tập trung vào vấn đề đăng ký hộ kinh doanh hộ tịch, đất đai, kinh tế - hạ tầng - đô thị, nông nghiệp - môi trường, bảo trợ xã hội... người dân vẫn còn tình trạng nhầm lẫn giữa các loại thủ tục thuộc thẩm quyền xã và văn phòng cấp huyện, chủ yếu ở lĩnh vực đất đai, rất cần cán bộ tư vấn trực tiếp. Tuy nhiên, biên chế cán bộ và công tác tổ chức bộ máy ở cơ sở chưa được điều chỉnh cho tương xứng và kịp thời, gây ra tình trạng tồn đọng nhiều hồ sơ chưa xử lý đúng hạn và chậm trễ. Đây là một trong những “điểm nghẽn” cốt lõi làm giảm hiệu quả hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, chưa mang lại chất lượng hưởng thụ cho người dân như kỳ vọng.
Hai là, năng lực, trình độ công tác của một số cán bộ công chức, viên chức các cấp chưa đáp ứng được với yêu cầu mô hình bộ máy mới. Sau sáp nhập, đội ngũ cán bộ từ trung ương tới cơ sở không chỉ làm công việc chuyên môn thuần túy như trước, mà phải linh hoạt kiêm nhiệm thêm nhiều đầu việc mới, thậm chí trái với ngành nghề, không đúng chuyên môn. Ví dụ như ở mô hình chính quyền địa phương hai cấp, địa bàn cấp tỉnh, cấp xã rất rộng, cán bộ cấp huyện điều chuyển công tác về xã và cán bộ cấp xã cũ không chỉ làm công tác hành chính thông thường, giờ phải thực hiện chức năng quản trị nhà nước ở mức cao hơn về các vấn đề chính trị - kinh tế - xã hội. Vẫn còn tình trạng cán bộ chưa chủ động học tập, nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng số phục vụ cho công việc, “nhiều cán bộ, công chức, viên chức chưa sử dụng tốt các công cụ, nền tảng, dịch vụ số trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, thực thi công vụ, dẫn đến năng suất công việc thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới” [2]. Vì vậy, dẫn đến tình trạng khi được phân cấp, phân quyền, nhiều cán bộ vẫn không dám ban hành quyết định vì sợ sai phạm và không có cơ chế bảo vệ từ cấp trên. Do đó, vấn đề này đã tác động đến hiệu quả làm việc của chính quyền cơ sở và gây ra hệ quả là cán bộ làm việc cầm chừng, không dám làm hoặc làm sẽ sai, suy giảm chất lượng dịch vụ phục vụ cho nhân dân và doanh nghiệp.
Một bộ phận cán bộ không đáp ứng được mô hình làm việc mới do năng lực trình độ hạn chế, không được đào tạo bài bản về chuyên môn phải rời khỏi khu vực công, tuổi đời còn trẻ và phải đi tìm việc làm mới. Một bộ phận có kinh nghiệm làm việc, có năng lực trình độ, nhưng thời gian làm việc còn ít nên họ tự nguyện nghỉ để nhường lại công việc cho lớp trẻ kế tục. Những cán bộ này mang nhiều tâm tư, chưa ổn định với sự thay đổi đột ngột về môi trường công tác, dễ dao động. Cho nên, chính quyền các cấp cần phải quan tâm tới nhu cầu đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp phát sinh, ổn định cuộc sống cho họ, góp phần xây dựng cơ chế chính sách an sinh xã hội trên địa bàn dân cư.

Ba là, một số chính sách, chế độ ban hành phục vụ hoạt động của bộ máy mới chưa phù hợp với đội ngũ cán bộ đang vận hành hệ thống. Hiện nay, rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật và thủ tục hành chính từ Trung ương tới cơ sở chưa được ban hành và cập nhật kịp thời để cho phù hợp với mô hình bộ máy mới, gây ra tình trạng chồng chéo quyền hạn, thiếu thẩm quyền cho cấp cơ sở, làm cho cán bộ bị “ngợp” văn bản khi triển khai phục vụ cho yêu cầu giải quyết công việc.
Ngoài ra, tính chất và khối lượng công việc của cán bộ tăng lên rất nhiều sau tinh gọn bộ máy, nhưng hiện nay chính sách đãi ngộ tiền lương phụ cấp, chế độ bảo vệ cho cán bộ cấp cơ sở chưa được điều chỉnh cho phù hợp và tương xứng với nhiệm vụ được giao. Những chính sách này đang là rào cản cho việc thu hút nguồn “nhân lực chất lượng cao”, cán bộ chuyên môn giỏi ở cấp Trung ương, cấp tỉnh không muốn về công tác hoặc luân chuyển về cơ sở, làm giảm tinh thần nhiệt huyết và động lực làm việc tích cực của đội ngũ cán bộ sở tại.
Giải pháp tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong công tác cán bộ sau sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy
Đại hội XIV của Đảng xác định, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy cần tiếp tục được thực hiện thông qua việc phát huy những kết quả đạt được và từng bước giải quyết những khó khăn, vướng mắc. Để tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong công tác cán bộ sau sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, cần chú ý đến những giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp tục rà soát để sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ cho phù hợp với bộ máy mới.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết tâm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu về tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 18-NQ/TW, 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Trung ương, các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp.
Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về bổ nhiệm, miễn nhiệm, thăng chức, cho thôi việc đối với cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính sau sáp nhập, tránh tiêu cực trong công tác cán bộ, đảm bảo lựa chọn được người thực sự xứng đáng cho vị trí công việc.
Hệ thống chính trị cùng các cấp, các ngành, cơ quan, địa phương tiếp tục nghiên cứu sớm tổ chức các hội nghị, hội thảo để tổng kết, đánh giá một cách khoa học các mô hình, cách làm hay của các địa phương trong cả nước, trong đó có những kinh nghiệm hay về sử dụng, bố trí, phân bổ cán bộ hợp lý trong tinh gọn bộ máy, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và phương hướng giải pháp bổ sung điều chỉnh quy định, quy chế về công tác cán bộ những năm tiếp theo.
Thứ hai, có cơ chế chính sách phù hợp cho đội ngũ cán bộ làm việc hiệu quả trong bộ máy mới.
Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế, mối quan hệ công tác giữa các cấp chính quyền từ Trung ương tới địa phương. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng về cơ sở, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương với phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Ban hành cơ chế, pháp luật cụ thể, minh bạch để bảo vệ và khuyến khích cán bộ các cấp năng động, sáng tạo, “suy nghĩ phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải cao, nỗ lực phải lớn, hành động phải quyết liệt” [3] trong việc tháo gỡ các “điểm nghẽn”, để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển bền vững.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin (xây dựng các cơ sở dữ liệu số, các phần mềm quản lý hiện đại...) vào quản lý hành chính, giúp các cán bộ các cấp giảm bớt khối lượng công việc thủ công, tăng hiệu suất công việc.
Đề nghị nghiên cứu, rà soát, bổ sung vị trí việc làm, chế độ chính sách đãi ngộ (tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, thang bảng lương, phụ cấp...) đối với đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là ở đơn vị hành chính cấp xã để họ yên tâm công tác, hăng hái làm việc, liêm chính, công tâm, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thứ ba, phát triển đội ngũ cán bộ sau sáp nhập để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước.
Mỗi cán bộ cấp ủy đảng phải phát huy tinh thần trách nhiệm, am hiểu đối tượng cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý, lắng nghe dư luận xã hội, có hiểu biết sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, có kiến thức trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là phải có tâm trong sáng, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng. Kịp thời phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ tài năng và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ theo Kết luận số 205-KL/TW ngày 7/11/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá trong tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đãi ngộ cán bộ. Tiếp tục xây dựng và nhanh chóng triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là các ngành, các lĩnh vực mũi nhọn về khoa học công nghệ để phục vụ cho sự nghiệp phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Xây dựng và hoàn thiện sổ tay chuyên môn, khung năng lực theo vị trí việc làm cho cán bộ các cấp; thực hiện đánh giá năng lực theo tiêu chí chuẩn và gắn với lộ trình đào tạo lại, bổ nhiệm, đào thải cán bộ. Mỗi cán bộ phải phát huy tinh thần tự nghiên cứu, tự học tập, rèn luyện năng lực làm việc “theo dõi sát thực tiễn, có giải pháp ứng phó, phản ứng chính sách kịp thời, chủ động linh hoạt, hiệu quả; tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược” [4].
Tiếp tục “xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, tận tụy, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” để “phép nước” đi đôi với “lòng dân”, mọi người đều có trách nhiệm với xã hội” [5], để hệ thống chính trị và chính quyền các cấp có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ uy tín, năng lực, là những “pháo đài lý luận chính trị” sắc bén với “sức đề kháng” mạnh mẽ đập tan mọi âm mưu chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ sống còn, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, chế độ ta, cho nên Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, khắc phục những “điểm nghẽn” trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa; giữ mình trước cám dỗ; phải biết xấu hổ khi dân còn khó khăn, nghèo đói; phải coi danh dự là điều thiêng liêng, cao quý; coi liêm chính là phẩm chất nền tảng của đạo đức công vụ” [6]. Tạo được sự đồng thuận toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong xã hội, thì không thể có một thế lực thù địch hay các phần tử xấu nào có thể chống phá được đất nước Việt Nam.
Quán triệt phương châm: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công tác cán bộ là công việc gốc của Đảng”, việc tháo gỡ các “điểm nghẽn” trong công tác cán bộ sau sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đây không chỉ là giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị, mà còn góp phần củng cố “sức đề kháng” từ bên trong, giữ vững sự ổn định tổ chức, ngăn ngừa nguy cơ bị các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị lợi dụng khó khăn, tác động chia rẽ nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.
Trong bối cảnh đó, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển, mà còn là bước chuyển mang ý nghĩa lịch sử trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong công tác cán bộ chính là chìa khóa bảo đảm cuộc cải cách này đi vào chiều sâu, tạo dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thực sự vì nhân dân phục vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
[1]https://dantri.com.vn/noi-vu/mot-phong-cap-xa-ganh-viec-cua-7-so-cong-chuc-bi-qua-tai-20260423113255178.htm
[2] Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Về đẩy mạnh bồi dưỡng và đánh giá kiến thức, kỹ năng số đối với cán bộ, công chức, viên chức
[3] Chính phủ, Báo cáo số 775/BC- CP ngày 13/9/2025 của Chính phủ, Báo cáo tóm tắt tổng kết công tác nhiệm kỳ 2021- 2026 của Chính phủ, tr.11.
[4] Chính phủ, Báo cáo số 775/BC- CP ngày 13/9/2025 của Chính phủ, Báo cáo tóm tắt tổng kết công tác nhiệm kỳ 2021- 2026 của Chính phủ,tr.9.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026,t1, tr.35.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026,t1, tr.35.