Diễn đàn được tổ chức nhằm tháo gỡ điểm nghẽn tăng trưởng, đưa ra những giải pháp tạo nền tảng đủ mạnh để nền kinh tế có thể chuyển trạng thái tăng trưởng bứt phá, hướng tới hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước thịnh vượng với các dấu mốc 100 năm thành lập Đảng (năm 2030) và 100 năm thành lập nước (năm 2045).
Tại diễn đàn, nhiều chuyên gia, nhà khoa học, đại diện cộng đồng doanh nghiệp có ý kiến tham luận cho rằng, nếu tận dụng hiệu quả các cơ hội đang mở ra, đồng thời tháo gỡ được những điểm nghẽn nội tại của nền kinh tế, Việt Nam sẽ có cơ sở để tạo ra bước chuyển mang tính đột phá về tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Theo đó, mục tiêu của đất nước là phát triển nhanh, bền vững, đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô hàng đầu thế giới. Phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân.

Tại diễn đàn, GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đánh giá, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là yêu cầu về quy mô hay tốc độ. Mà còn đòi hỏi bước chuyển căn bản về chất lượng thể chế, năng suất, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Tăng trưởng phải được hình thành trên nền tảng năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, thị trường thông suốt hơn, công nghệ hiện đại hơn và bộ máy thực thi hiệu quả hơn...
Theo GS.TS Lê Văn Lợi, nhiều năm qua, chính sách kinh tế của Việt Nam chủ yếu tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Tuy nhiên, ổn định vĩ mô mới chỉ là điều kiện cần; năng lực tăng trưởng thực sự lại được tạo ra ở cấp độ doanh nghiệp, từng ngành, từng địa phương và từng dự án đầu tư. Nền kinh tế khó có thể tăng trưởng nhanh nếu doanh nghiệp vẫn mất quá nhiều thời gian và chi phí cho thủ tục hành chính; vốn chưa chảy tới các dự án có năng suất cao; hay khi đất đai, dữ liệu, công nghệ và nhân lực chưa được sử dụng hiệu quả.
Do đó, việc chuyển mạnh trọng tâm sang cải cách vi mô có tính đột phá, với các cơ chế khuyến khích nghiên cứu - phát triển (R&D), đổi mới công nghệ, tín dụng dựa trên dữ liệu và triển vọng kinh doanh, phát triển thị trường dữ liệu minh bạch cũng như cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các mô hình kinh doanh mới. Ông cũng nhấn mạnh ba yêu cầu để các đột phá vi mô thực sự trở thành động lực tăng trưởng, gồm: Chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; chuyển từ chính sách bình quân sang chính sách có trọng tâm, trọng điểm; coi chất lượng thực thi là một bộ phận cấu thành của chính sách.
Tại Diễn đàn, TS Phạm Anh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới - chia sẻ: Tăng trưởng cao phải dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng doanh nghiệp và hiệu quả thị trường, thay vì chỉ dựa vào mở rộng vốn, lao động và khai thác lợi thế chi phí thấp. Thực tế cho thấy, khu vực doanh nghiệp Việt Nam vừa là đối tượng chịu tác động của biến động kinh tế trong nước và quốc tế, vừa là chủ thể trung tâm quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao.
Để kích hoạt tăng trưởng, chính sách cần chuyển mạnh từ hỗ trợ chung sang chính sách vi mô đột phá, tập trung tháo gỡ rào cản thể chế, giảm chi phí tuân thủ, mở rộng tiếp cận nguồn lực, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cấp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Kích hoạt tăng trưởng là kích hoạt khả năng sống sót, lớn lên, đổi mới và tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp Việt Nam.
Từ góc nhìn chuyên gia, ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Bộ Tài chính) cho biết, mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn mới đặt Việt Nam trước yêu cầu phải đổi mới đồng bộ cả tư duy phát triển và phương thức điều hành chính sách.
Tăng trưởng không chỉ được đo bằng tốc độ gia tăng GDP, mà còn phải được phản ánh qua chất lượng thể chế, năng suất của nền kinh tế, khả năng tích lũy nội lực, mức độ tham gia của khu vực tư nhân và năng lực thích ứng trước những biến động từ bên ngoài. Vì vậy, quá trình thúc đẩy tăng trưởng cần được đặt trong khuôn khổ ổn định kinh tế vĩ mô, bền vững tài khóa và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Trong khuôn khổ đó, chính sách thuế cần được nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển quốc gia. Giá trị của chính sách thuế không chỉ thể hiện ở khả năng huy động nguồn lực cho ngân sách, mà còn ở mức độ tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, khuyến khích đầu tư dài hạn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và củng cố niềm tin của các chủ thể kinh tế. Một hệ thống thuế phù hợp phải vừa bảo đảm tính công bằng và trung lập tương đối, vừa có khả năng thích ứng trước sự thay đổi của mô hình kinh doanh, công nghệ, chuỗi giá trị và các chuẩn mực quốc tế.
Đổi mới chính sách thuế vì vậy cần được thực hiện như một quá trình liên tục, có trọng tâm, có lộ trình và có cơ chế đánh giá rõ ràng. Mỗi chính sách được ban hành phải trả lời được ba vấn đề cơ bản: Cần giải quyết mục tiêu phát triển nào, tạo ra kết quả kinh tế - xã hội gì và chi phí ngân sách tương ứng có hợp lý hay không. Cách tiếp cận này giúp hạn chế tư duy ưu đãi dàn trải, nâng cao trách nhiệm giải trình và bảo đảm các công cụ thuế thực sự hỗ trợ cho những hoạt động tạo ra giá trị gia tăng, năng suất và năng lực cạnh tranh lâu dài.
Theo nhận định của ông Nguyễn Văn Phụng, trong thời gian tới, hiệu quả của cải cách thuế sẽ phụ thuộc không chỉ vào nội dung của các sắc thuế, mà còn vào chất lượng tổ chức thực hiện, mức độ phối hợp giữa các cơ quan,tổ chức, năng lực quản trị dữ liệu và khả năng đồng hành với người nộp thuế. Khi chính sách được xây dựng trên cơ sở bằng chứng, được thực thi nhất quán và được điều chỉnh kịp thời theo kết quả thực tế, hệ thống thuế sẽ trở thành một nền tảng quan trọng để Việt Nam huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả, củng cố sức mạnh nội sinh và tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển nhanh, bao trùm và bền vững.
Chia sẻ quan điểm nhận định của mình trong tham luận "Từ luật Trí tuệ nhân tạo đến năng suất doanh nghiệp thể chế trí tuệ nhân tạo như một động lực tăng trưởng của giai đoạn mới", TS. Hồ Đức Thắng, Viện trưởng Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia, cho rằng: Trí tuệ nhân tạo (AI) đang phổ biến với tốc độ nhanh nhất trong lịch sử công nghệ và đã chuyển sang giai đoạn tác tử - tự lập kế hoạch, tự thực hiện và phối hợp để hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, mức độ sử dụng cao chưa đồng nghĩa với năng suất: công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi đi cùng dữ liệu tin cậy, quy trình phù hợp, nhân lực có kỹ năng và cơ chế trách nhiệm rõ ràng…
Luật Trí tuệ nhân tạo không chỉ là một đạo luật dành cho ngành công nghệ - đó còn là một đạo luật có ý nghĩa kinh tế. Một khung thể chế rõ ràng giúp doanh nghiệp giảm bất định, mạnh dạn đầu tư và tiếp cận các nguồn lực cần thiết cho đổi mới; quản lý theo mức độ rủi ro tạo điều kiện cho các ứng dụng rủi ro thấp phát triển, đồng thời bảo vệ con người trước những hệ thống có khả năng gây ảnh hưởng lớn… Tăng trưởng hai con số không chỉ đến từ huy động thêm vốn và lao động. Tăng trưởng còn đến từ việc mỗi giờ làm việc tạo ra nhiều giá trị hơn, mỗi quy trình giảm bớt lãng phí, mỗi quyết định chính xác hơn và mỗi khách hàng được phục vụ tốt hơn.
TS. Hồ Đức Thắng nhận định, có 03 vấn đề cần được quán triệt trong quá trình triển khai: Luật Trí tuệ nhân tạo, đó là: Sử dụng trí tuệ nhân tạo chưa đồng nghĩa với nâng cao năng suất. Công nghệ chỉ tạo ra năng suất khi đi cùng dữ liệu tốt, quy trình phù hợp và con người có kỹ năng; có thể giao việc cho máy, nhưng trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về con người; thể chế không chỉ để quản lý công nghệ. Thể chế phải mở đường để công nghệ phục vụ phát triển.
Thực hiện tốt những yêu cầu đó, trí tuệ nhân tạo sẽ không chỉ là một công cụ mới, mà trở thành một động lực thực sự của năng suất doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới. Và với một công nghệ có năng lực tăng gấp đôi sau mỗi vài tháng, thời gian dành cho chúng ta không còn được đo bằng năm - nó được đo bằng tháng.
Tại diễn đàn, các đại biểu, chuyên gia, nhà khoa học, đại diện cộng đồng doanh nghiệp đều đồng nhất quan điểm cho rằng, việc đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số có ý nghĩa đặc biệt trong tiến trình phát triển kinh tế đất nước. Đây sẽ là tín hiệu quan trọng cho một chu kỳ phát triển mới.
Với tinh thần khát vọng đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới, Diễn đàn "Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu tăng trưởng hai con số" đã làm rõ những vấn đề cốt lõi trong việc bảo đảm nền tảng vĩ mô cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đồng thời thống nhất quan điểm trong việc đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững. Tin tưởng rằng, khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước ta phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.