Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân là sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong việc lựa chọn người đại diện cho mình. Để bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, công khai, minh bạch, pháp luật đã quy định chặt chẽ về quy trình bỏ phiếu và kiểm phiếu. Những quy định này được nêu rõ trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025) cùng các hướng dẫn của Hội đồng Bầu cử quốc gia và Ủy ban bầu cử các cấp.

Vấn đề cử tri Nguyễn Văn Hòa hỏi, Hội đồng Bầu cử quốc gia giải đáp như sau:
Điều 73, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân năm 2015 quy định: việc kiểm phiếu phải được tiến hành ngay tại phòng bỏ phiếu, ngay sau khi kết thúc bỏ phiếu và chỉ do các thành viên Tổ bầu cử thực hiện.
Quy trình kiểm phiếu được thực hiện theo các bước, gồm:
Thứ nhất, tuyên bố kết thúc bỏ phiếu và chuẩn bị kiểm phiếu. Tổ trưởng Tổ bầu cử tuyên bố kết thúc việc bỏ phiếu. Hòm phiếu chỉ được mở sau thời điểm này và việc kiểm phiếu phải tiến hành tại phòng bỏ phiếu.
Thứ hai, kiểm kê việc sử dụng phiếu bầu. Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải lập biên bản kiểm kê phiếu bầu nhằm đối chiếu số lượng phiếu đã nhận, số phiếu phát ra, số phiếu cử tri đổi do gạch hỏng và số phiếu chưa sử dụng.
Việc kiểm tra được thực hiện theo nguyên tắc: Số phiếu Tổ bầu cử đã nhận = Số phiếu phát ra + Số phiếu đổi + Số phiếu chưa sử dụng.
Biên bản kiểm kê này được lập theo mẫu của Hội đồng Bầu cử quốc gia và gửi đến các cơ quan liên quan để bảo đảm tính minh bạch.

Thứ ba, mở hòm phiếu và phân loại phiếu. Sau khi hoàn tất việc kiểm kê, Tổ bầu cử mở hòm phiếu và tiến hành phân loại phiếu theo từng loại bầu cử:
- Phiếu bầu đại biểu Quốc hội;
- Phiếu bầu đại biểu Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh/thành phố;
- Phiếu bầu đại biểu Hội đồng Nhân dân cấp xã, phường, thị trấn;
Việc kiểm phiếu thường được thực hiện theo thứ tự: Đại biểu Quốc hội trước, sau đó đến Hội đồng Nhân dân các cấp.
Thứ tư, xác định phiếu hợp lệ và không hợp lệ. Điều 74, Luật Bầu cử quy định các trường hợp phiếu không hợp lệ, như: phiếu không đúng mẫu, phiếu gạch hết tên người ứng cử, phiếu ghi thêm tên người ngoài danh sách hoặc phiếu có ký hiệu riêng.
Sau khi phân loại, Tổ bầu cử tiến hành đếm số phiếu hợp lệ cho từng ứng cử viên.
Thứ năm, lập biên bản kiểm phiếu. Kết quả kiểm phiếu được lập thành biên bản theo mẫu thống nhất của Hội đồng bầu cử quốc gia. Biên bản ghi rõ:

- Tổng số cử tri của khu vực bỏ phiếu;
- Số cử tri tham gia bỏ phiếu;
- Tổng số phiếu phát ra;
- Số phiếu hợp lệ, không hợp lệ;
- Số phiếu của từng ứng cử viên;
Biên bản phải được lập thành nhiều bản, có chữ ký của các thành viên Tổ bầu cử và được niêm phong cùng các tài liệu liên quan.
Điều 73 của Luật cũng quy định việc kiểm phiếu phải hoàn thành chậm nhất trong vòng 24 giờ kể từ khi kết thúc bỏ phiếu, bảo đảm tiến độ công bố kết quả bầu cử.