Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đã tiến hành biểu quyết thông qua Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế với 98,60% đại biểu tán thành.

Với 493/495 đại biểu tán thành (chiếm tỷ lệ 98,60% tổng số ĐBQH), Quốc hội thông Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Trước khi biểu quyết thông qua, dự thảo Nghị quyết nhận được nhiều sự quan tâm của các đại biểu Quốc hội. Báo cáo về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết theo hướng bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật; đồng thời nâng cao tính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Dự thảo Nghị quyết gồm: 5 Chương, 21 Điều. Việc chỉnh lý tập trung làm rõ phạm vi điều chỉnh, cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm và hoàn thiện chính sách ưu đãi đặc thù đối với đội ngũ công chức, viên chức trực tiếp tham gia công tác phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, bảo đảm cân đối nguồn lực, tránh chồng chéo và tăng hiệu quả thực thi.
Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, thay mặt Cơ quan soạn thảo, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đề nghị Quốc hội cho giữ phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết tập trung vào lĩnh vực phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, không mở rộng áp dụng đối với toàn bộ các loại tranh chấp quốc tế do tính chất đa dạng, phức tạp và khác biệt của từng loại tranh chấp.

Bên cạnh đó, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, dự thảo Nghị quyết đã bổ sung cơ chế cho phép áp dụng một số quy định của Nghị quyết trong trường hợp bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước Việt Nam, kể cả khi tham gia tranh chấp quốc tế với tư cách là bên chủ động khởi kiện hoặc thực hiện quyền phản tố.
Phạm vi áp dụng được mở rộng có kiểm soát đối với các chủ thể liên quan như cơ quan Nhà nước, tổ chức được ủy quyền, doanh nghiệp Nhà nước và công ty con của doanh nghiệp Nhà nước khi tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế.
Đồng thời, để bảo đảm nguyên tắc độc lập của hoạt động tư pháp, dự thảo Nghị quyết đã bổ sung quy định loại trừ áp dụng Nghị quyết đối với cơ quan tài phán Việt Nam khi thực hiện chức năng xét xử theo các điều ước quốc tế về bảo hộ đầu tư mà Việt Nam là thành viên. Quy định này nhằm bảo đảm không can thiệp vào hoạt động xét xử, đồng thời duy trì sự phù hợp với cam kết quốc tế.
Về xác định Cơ quan chủ trì, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, dự thảo Nghị quyết được chỉnh lý theo hướng giao Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ quan chủ trì trên cơ sở xem xét cụ thể từng vụ việc. Cách tiếp cận này bảo đảm tính linh hoạt trong phân công cơ quan chủ trì, phù hợp với tính chất đa dạng của các tranh chấp đầu tư quốc tế phát sinh trong thực tiễn, đồng thời duy trì vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong tư vấn và đại diện pháp lý, góp phần bảo đảm sự phối hợp hiệu quả, phát huy thế mạnh chuyên môn của từng cơ quan, nâng cao chất lượng xử lý tranh chấp.

Về chế độ, chính sách đối với người tham gia công tác phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, theo Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng, dự thảo Nghị quyết được tiếp thu, chỉnh lý theo hướng hoàn thiện hệ thống chính sách đặc thù, bảo đảm tương thích với các nghị quyết hiện hành của Quốc hội và phù hợp với đặc thù công việc có yêu cầu chuyên môn cao, áp lực lớn. Các chính sách được thiết kế theo nhóm đối tượng, phản ánh mức độ tham gia và khối lượng công việc khác nhau, qua đó bảo đảm tính hợp lý và khả thi.
Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội về việc tăng cường thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao, dự thảo Nghị quyết đã điều chỉnh mức hỗ trợ đối với người trực tiếp tham gia giải quyết tranh chấp tại cơ quan đại diện pháp lý và cơ quan chủ trì theo hướng được hưởng hỗ trợ hàng tháng tối đa không quá 300% mức lương hiện hưởng trong thời gian trực tiếp tham gia giải quyết tranh chấp.
Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, quy định này nhằm tạo động lực, khuyến khích và bảo đảm tương xứng với yêu cầu công việc. Đồng thời, để tránh chồng chéo và bảo đảm công bằng, dự thảo Nghị quyết đã bổ sung nguyên tắc: Trong trường hợp một đối tượng đồng thời được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ cùng mục đích thì chỉ được áp dụng mức cao nhất. Quy định này góp phần bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong thực hiện chính sách.
Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, dự thảo Nghị quyết đã bổ sung cơ chế cho phép Chính phủ ban hành văn bản theo thẩm quyền để xử lý các vấn đề phát sinh chưa được Nghị quyết quy định, bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện; trường hợp vượt thẩm quyền sẽ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2026.