Nghị quyết 80 - Xây dựng con người Việt Nam ‘chìa khóa’ cho kỷ nguyên vươn mình

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa là một chiến lược mang tầm vóc lịch sử, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển. Trong bối cảnh đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, việc xây dựng và bồi dưỡng con người Việt Nam phát triển toàn diện trở thành nhiệm vụ then chốt, vừa kế thừa giá trị truyền thống, vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại.

Theo PGS.TS Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, nay là Ủy ban Văn hóa- Xã hội, những vấn đề đặt ra trong Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa, nhấn mạnh vấn đề con người được đặt là trung tâm, phát triển con người là bền vững.

Nghị quyết 80-NQ/TW đặt con người vào vị trí trung tâm của phát triển văn hóa. Theo ông, cần làm gì để xây dựng và bồi dưỡng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay?

z4384950533934-05c033d324570b30c3fcf7f526104fcb-1774086434.jpg
Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cần hướng tới sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại: vừa kế thừa những giá trị tốt đẹp như nhân ái, đoàn kết, yêu chuộng hòa bình, vừa hình thành những phẩm chất mới đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập. Ảnh VGP.

PGS.TS Nguyễn Viết Chức: Có thể nói, chiến lược xây dựng con người của Đảng ta không phải đến nay mới đặt ra, mà đã được hình thành từ rất sớm và nhất quán qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên, với Nghị quyết 80-NQ/TW, lần đầu tiên vấn đề này được cụ thể hóa rõ ràng hơn về mục tiêu, lộ trình và cách thức triển khai. Nói một cách khái quát, xây dựng con người chính là để xây dựng đất nước.

Trong lĩnh vực văn hóa, điều này càng trở nên đặc biệt, bởi chỉ có con người mới sáng tạo ra văn hóa, nhưng đồng thời chính văn hóa lại trở thành môi trường định hình nhân cách, lối sống và hệ giá trị của con người. Văn hóa điều chỉnh hành vi từ những chuẩn mực lớn như lý tưởng, lẽ sống cho đến ứng xử hằng ngày. Mối quan hệ giữa con người và văn hóa vì thế mang tính biện chứng: Con người tạo ra văn hóa, còn văn hóa "nuôi dưỡng" và định hình con người.

Từ góc nhìn đó, phát triển con người không chỉ là yêu cầu trước mắt mà là một chiến lược vừa mang tính khoa học, vừa mang tính thực tiễn sâu sắc. Nghị quyết 80-NQ/TW không chỉ là một văn kiện chính trị, mà còn truyền đi một thông điệp và cảm hứng mạnh mẽ cho toàn xã hội về việc đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển.

Nhìn rộng hơn, có thể thấy việc ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW trong bối cảnh đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới không phải là điều ngẫu nhiên. Đây là sự tiếp nối truyền thống "đi trước một bước" của Đảng trong lĩnh vực văn hóa. Ngay từ năm 1943, khi đất nước còn trong hoàn cảnh "một cổ hai tròng", Đảng đã ban hành Đề cương về văn hóa Việt Nam với ba nguyên tắc "Dân tộc hóa"; "Đại chúng hóa"; "Khoa học hóa" và được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" – đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp phát triển văn hóa và con người Việt Nam.

gen-h-1774086494.jpg
PGS. TS Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, nay là Ủy ban Văn hóa- Xã hội. Ảnh VGP/Minh Thúy

Thực tiễn lịch sử cho thấy, văn hóa với vai trò là nền tảng tinh thần, là "ánh sáng soi đường" đã góp phần hun đúc ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết và khát vọng hòa bình của dân tộc. Đó cũng là những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc con người Việt Nam.

Vì vậy, xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cần hướng tới sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại: Vừa kế thừa những giá trị tốt đẹp như nhân ái, đoàn kết, yêu chuộng hòa bình, vừa hình thành những phẩm chất mới đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập. Đó phải là những con người có tri thức, có bản lĩnh, có khát vọng vươn lên, nhưng cũng giàu tinh thần trách nhiệm, biết sẻ chia và đồng hành cùng cộng đồng.

Chỉ khi xây dựng được những con người như vậy, văn hóa mới thực sự trở thành động lực nội sinh, và đất nước mới có thể bước vào kỷ nguyên phát triển mới một cách bền vững và vững chắc.

Theo ông, đâu là những thách thức trong việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện theo tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW?

PGS.TS Nguyễn Viết Chức: Có thể nói, việc xây dựng con người Việt Nam hiện nay có nhiều thuận lợi hơn trước. Trước hết, vị thế đất nước đã khác; hình ảnh, uy tín của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế ngày càng được nâng cao, hình ảnh về một dân tộc thân thiện, tử tế, yêu hòa bình. Bên cạnh đó, điều kiện vật chất cũng tốt hơn, tạo nền tảng thuận lợi cho việc phát triển con người.

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, những yêu cầu đặt ra cũng đi kèm với không ít thách thức, thậm chí là những thách thức rất lớn. Thế giới hiện nay diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường. Các xung đột, chiến tranh, bất ổn địa chính trị không chỉ gây tổn thất về con người mà còn tác động sâu rộng đến kinh tế toàn cầu. Những biến động đó ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia như Việt Nam, từ giá năng lượng, chuỗi cung ứng đến đời sống người dân.

con-nguoi-vn-1774086588.jpg
Nghị quyết 80 - Xây dựng con người Việt Nam ‘chìa khóa’ cho kỷ nguyên vươn mình. Ảnh internet.

Trong bối cảnh ấy, yêu cầu đặt ra đối với con người là phải có khả năng thích ứng cao, đủ năng lực để đứng vững trước mọi biến động. Lòng yêu nước ngày nay không chỉ dừng lại ở tinh thần không khuất phục, mà còn phải được thể hiện ở khát vọng phát triển, ở ý chí không chấp nhận tụt hậu.

Một thách thức lớn khác là làm sao khơi dậy khát vọng vươn lên vượt ra khỏi những lợi ích cá nhân nhỏ hẹp. Khi con người chỉ quanh quẩn với những toan tính vật chất, dù lớn đến đâu, thì cũng trở nên nhỏ bé nếu đặt trong tương lai của dân tộc. Điều cần thiết là mỗi người phải hướng tới những giá trị lớn hơn, hiểu được quy luật "nước lên thì thuyền lên", nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân – "dân là gốc", sức dân có thể nâng đỡ nhưng cũng có thể làm thay đổi mọi cục diện.

Bên cạnh đó, việc xây dựng con người còn đòi hỏi phải hình thành những phẩm chất toàn diện: Yêu nước, có tri thức, có bản lĩnh, có sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần. Một con người phát triển toàn diện không chỉ khỏe mạnh về thể lực mà còn phải lành mạnh về tâm hồn, biết hướng tới những giá trị tốt đẹp, thay vì bị chi phối bởi chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhỏ hẹp.

Thực tế cho thấy, những cám dỗ trong xã hội hiện đại là rất lớn: Từ tiền bạc, quyền lực đến những nhu cầu hưởng thụ, giải trí. Đối với người trẻ, đó còn là sự dễ dãi, thiếu định hướng trong lối sống. Nếu không đủ bản lĩnh, con người rất dễ bị cuốn vào những vòng xoáy này và đánh mất phương hướng phát triển.

Một thách thức không nhỏ khác là giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như tinh thần sẻ chia, nhân ái, "lá lành đùm lá rách", "lá rách ít đùm lá rách nhiều". Đây không phải là điều dễ dàng trong bối cảnh xã hội nhiều biến động, khi các giá trị vật chất ngày càng chi phối mạnh mẽ.

Có thể nói, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là một nhiệm vụ khó khăn, lâu dài. Đó không chỉ là vấn đề nhận thức mà còn là quá trình tự rèn luyện, vượt qua cám dỗ, hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Bởi lẽ, chỉ cần một phút lơi lỏng, con người rất dễ bị tác động và lệch hướng. Vì vậy, để có được những con người đủ năng lực, bản lĩnh và khát vọng cống hiến cho đất nước trong giai đoạn mới là một thách thức rất lớn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

7-1774086748.jpg
Ảnh minh họa, nguồn báo Lào Cai.

Nghị quyết 80-NQ/TW đề cập đến việc huy động mạnh mẽ các nguồn lực cho phát triển văn hóa. Theo PGS.TS, cần có những cơ chế then chốt nào để thu hút hiệu quả nguồn lực từ xã hội và doanh nghiệp?

PGS.TS Nguyễn Viết Chức: Nghị quyết 80-NQ/TW không đứng riêng lẻ mà đặt trong tổng thể các nghị quyết lớn như: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQTW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân… Tất cả với một yêu cầu chung là phải huy động "tổng lực". Không có tổng lực thì không thể tạo ra những bước phát triển lớn.

"Tổng lực" ở đây không chỉ là nguồn lực vật chất, mà còn là sự hội tụ của ý chí, tình cảm, trí lực, thể lực của toàn xã hội – từ cán bộ đến người dân, từ người trẻ đến người cao tuổi. Trong một "kỷ nguyên vươn mình", không ai có thể phát triển một mình; muốn đi xa phải đi cùng nhau, phải có sự đồng lòng.

Vấn đề đặt ra là huy động nguồn lực nào và bằng cách nào? Trước hết, đó là nguồn lực trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Lịch sử đã chứng minh, khi khối đại đoàn kết được phát huy, đất nước sẽ có sức mạnh to lớn. Nhưng để làm được điều đó, đòi hỏi phải đổi mới tư duy và phương thức hành động ở mọi cấp, mọi ngành.

Trong bối cảnh tổ chức bộ máy được tinh gọn hiện nay, yêu cầu đối với mỗi cá nhân càng cao hơn. Khối lượng công việc lớn hơn, phạm vi quản lý rộng hơn, đòi hỏi mỗi người phải làm việc hiệu quả hơn, thậm chí "một người làm bằng hai, bằng ba". Nếu vẫn giữ cách làm cũ thì không thể đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Huy động nguồn lực cũng không thể chỉ nhìn ở những thực thể lớn, mà phải bắt đầu từ từng cá nhân, từng hộ gia đình, từng doanh nghiệp. Những đóng góp nhỏ, khi được cộng hưởng, sẽ tạo thành sức mạnh lớn của toàn xã hội.

Về cơ chế, Đảng đã khẳng định rõ vai trò của các thành phần kinh tế: Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng, trong khi kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Hai khu vực này cần được phát huy đồng thời, không coi nhẹ bên nào, tạo nên sự phối hợp hiệu quả trong huy động nguồn lực cho phát triển, trong đó có lĩnh vực văn hóa.

Riêng với văn hóa, một yêu cầu then chốt là phải coi trọng tài năng và vai trò của cá nhân sáng tạo. Các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật không thể được tạo ra bởi tư duy tập thể, mà phải kết tinh từ sự sáng tạo của những cá nhân xuất sắc. Tập thể có thể định hướng, nhưng tác phẩm lớn luôn mang dấu ấn cá nhân.

Do đó, cần có cơ chế mở để khuyến khích mọi cá nhân tham gia vào sự nghiệp chấn hưng văn hóa. Văn hóa không phải là lĩnh vực riêng của Nhà nước hay của một nhóm người làm văn hóa, mà là sự nghiệp của toàn dân. Nhà nước đóng vai trò quản lý, định hướng, nhưng sự phát triển thực sự phải dựa vào sức sáng tạo của xã hội.

Đồng thời, cần đặc biệt coi trọng, đãi ngộ và lắng nghe đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ – những người trực tiếp sáng tạo ra các giá trị văn hóa. Chỉ khi những tài năng được phát huy, được tự do sáng tạo và cống hiến hết mình vì đam mê, mới có thể hình thành những tác phẩm lớn, có giá trị lâu dài.

Có thể khẳng định, những sản phẩm văn hóa đặc sắc không thể được tạo ra từ tiền bạc hay quyền lực, mà phải đến từ niềm đam mê sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ của những cá nhân xuất sắc. Việc đề cao vai trò cá nhân trong sáng tạo không đồng nghĩa với chủ nghĩa cá nhân, mà là tôn vinh những con người dám hiến dâng trọn đời cho các giá trị văn hóa của dân tộc.

Trong quá trình thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW, cần đổi mới sử dụng nguồn lực cho văn hóa như thế nào để tránh dàn trải, đồng thời tạo ra những sản phẩm văn hóa có giá trị và sức lan tỏa lâu dài, thưa PGS.TS?

PGS.TS Nguyễn Viết Chức: Nếu nói một cách thông thường, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến việc tăng đầu tư tài chính cho văn hóa. Điều này là đúng. Nghị quyết 80-NQ/TW khẳng định "tối thiểu 2%" cho văn hóa. Không có nguồn lực tài chính thì không thể làm được, bởi muốn có công trình hay sản phẩm văn hóa tầm cỡ, dứt khoát phải có đầu tư.

Tuy nhiên, chỉ đầu tư tiền là chưa đủ. Tôi cho rằng, trước hết cần tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực cho văn hóa. Trong nhiều năm qua, khi đất nước ưu tiên phát triển kinh tế thị trường, phần lớn nguồn nhân lực chất lượng cao đổ dồn vào các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng… Trong khi đó, lĩnh vực văn hóa lại thiếu hụt những thế hệ được đào tạo bài bản, thậm chí có khoảng trống kéo dài qua nhiều thế hệ.

Trong bối cảnh hiện nay, khi đã mở cửa và hội nhập, hoàn toàn có thể khôi phục và đẩy mạnh việc đào tạo nhân lực văn hóa ở trong và ngoài nước, với điều kiện phải xây dựng được những con người có bản lĩnh, có khả năng thích ứng và giữ vững giá trị.

Văn hóa là một lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi người làm nghề không chỉ có chuyên môn mà còn phải có tâm hồn lành mạnh, đam mê và năng khiếu. Đây không phải là lĩnh vực mà ai cũng có thể làm được. Vì vậy, đầu tư cho văn hóa trước hết phải là đầu tư cho con người: Từ đào tạo, tuyển chọn đến sử dụng và bổ nhiệm cán bộ.

Cùng với đó, cần đổi mới cách sử dụng nguồn lực tránh dàn trải, nâng cao hiệu quả. Không thể chỉ "rót tiền" mà thiếu sự quan tâm đúng mức về tư duy quản lý, về trách nhiệm và văn hóa thực thi. Thực tế cho thấy, sự lãng phí nguồn lực vẫn còn rất lớn: Nhiều công trình chậm tiến độ, nhiều dự án "đắp chiếu", nhiều tài sản công không được khai thác hiệu quả. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề văn hóa. Văn hóa của trách nhiệm, văn hóa về sử dụng nguồn lực.

Một vấn đề đáng lưu ý là nếu chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà xem nhẹ văn hóa, thì hệ lụy sẽ xuất hiện rất nhanh. Thực tiễn quốc tế cũng như những cảnh báo từ các tổ chức như UNESCO đã chỉ ra rằng, phát triển thiếu nền tảng văn hóa sẽ không bền vững, thậm chí kéo theo sự xuống cấp về xã hội.

Do đó, cần xác định rõ: Đầu tư cho văn hóa phải tương xứng với đầu tư cho kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh. Nhưng quan trọng hơn, phải thay đổi nhận thức và cách làm, từ đào tạo con người, nâng cao chất lượng quản lý đến phát huy trách nhiệm của toàn xã hội.

Cuối cùng, để tránh dàn trải và tạo ra những sản phẩm văn hóa có giá trị, cần quán triệt tinh thần "nghị quyết là hành động". Nghị quyết cần được triển khai cụ thể trong từng lĩnh vực, từng cấp, từng cá nhân. Mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân đều phải có trách nhiệm tham gia, đóng góp vào sự phát triển văn hóa. Chỉ khi toàn xã hội cùng vào cuộc, nguồn lực mới được sử dụng hiệu quả và văn hóa mới có thể phát triển bền vững, tạo ra những giá trị lâu dài.

Để Nghị quyết 80-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, theo PGS.TS cần ưu tiên những giải pháp nào trong thời gian tới?

PGS.TS Nguyễn Viết Chức: Thực ra, các giải pháp đã được đặt ra khá rõ, trong đó trước hết là vấn đề đầu tư. Tuy nhiên, cần hiểu đầu tư ở đây là đầu tư tổng thể, trọng tâm là đầu tư con người, đặc biệt là đội ngũ trực tiếp làm công tác văn hóa.

van-hoa-viet-nam-1774086879.jpg
Ảnh minh họa, nguồn internet.

Những người làm văn hóa phải hiểu văn hóa. Nếu không am hiểu thì không thể làm tốt được. Vì vậy, ưu tiên hàng đầu là xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ văn hóa ở các cấp. Người đã giỏi cần tiếp tục được đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn; người chưa giỏi phải được học tập, rèn luyện để đáp ứng yêu cầu. Không có chuyên môn, không thể làm văn hóa.

Văn hóa là một bộ phận cấu thành quan trọng của đời sống xã hội. Vai trò đó đã được khẳng định xuyên suốt từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ "văn hóa soi đường cho quốc dân đi" đến quan điểm văn hóa là một trong những mặt trận của cách mạng.

Do đó, giải pháp mang tính chiến lược, đồng thời cũng là nhiệm vụ trước mắt, là xây dựng con người – con người văn hóa. Bởi chỉ khi có con người văn hóa thì mới có đời sống văn hóa lành mạnh và phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, một nhiệm vụ quan trọng là hoàn thiện và vận hành hiệu quả bộ máy sau khi đã được sắp xếp, tinh gọn. Bộ máy mới cần được vận hành trơn tru, hiệu quả để phát huy tối đa năng lực, nguồn lực.

Một giải pháp then chốt khác là quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về văn hóa trong thực tiễn. Văn hóa phải thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ tổ chức bộ máy, phát triển kinh tế, đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Những khái niệm như "ngoại giao văn hóa" hay hình tượng "ngoại giao cây tre" cần được hiểu đúng bản chất, tránh lệch lạc, đó là sự kiên định về nguyên tắc, linh hoạt trong ứng xử, dựa trên nền tảng đạo lý và lẽ phải.

Cùng với đó là yêu cầu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, di sản văn hóa, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chúng ta phải chủ động hội nhập, chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa. Tuy nhiên, hội nhập nhưng vẫn phải giữ bản sắc văn hóa, để văn hóa Việt Nam không bị hòa tan, lu mờ mà vẫn khẳng định được hình ảnh văn hóa Việt Nam trong dòng chảy chung của thế giới.

Trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Viết Chức!

 

PV/chinhphu.vn