Ngân hàng NCB lợi nhuận ‘mỏng’ do áp lực từ nguồn lực dự phòng hay do điều hành nguồn lực?

Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) ghi nhận kết quả kinh doanh cải thiện rõ rệt trong năm 2025. Nhưng, lợi nhuận sau thuế vẫn ở mức rất thấp do chi cho nguồn lực dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh. Ngoài ra, việc NCB đầu tư nguồn lực vào 4 doanh nghiệp ngoài ngành là hơn 719.600 triệu đồng mà chưa xác định được giá trị của các khoản đầu tư trên ảnh hưởng đến nguồn lực của NCB.

Nguồn lực lớn nhưng lợi nhuận “mỏng”

Mới đây, Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Dân (NCB) vừa đã công bố báo cáo tài chính (BCTC) Hợp nhất kiểm toán năm 2025 vào ngày 16/3/2026. Kết quả cho thấy, năm 2025, NCB ghi nhận thu nhập lãi thuần đạt 2.371,3 tỷ đồng, cải thiện mạnh so với mức âm 1.782 tỷ đồng của năm 2024.

bctc-nam-2025-1776378884.JPG
Ảnh chụp màn hình.

Dù vậy, lợi nhuận sau thuế của NCB đã cải thiện rõ rệt, từ mức âm 5.129 tỷ đồng của năm trước lên 78 triệu đồng trong năm 2025.

Trong năm 2025, hoạt động dịch vụ của NCB ghi nhận tăng trưởng mạnh, gần 152%, đạt hơn 188,7 tỷ đồng so với năm 2024. Đồng thời, lãi từ hoạt động khác cũng chuyển biến tích cực, từ mức âm 22,2 tỷ đồng lên dương 48,7 tỷ đồng.

Ở chiều ngược lại, lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối giảm 18,6%, còn khoảng 102 tỷ đồng; lãi từ mua bán chứng khoán đầu tư giảm mạnh 72%, xuống còn 36,7 tỷ đồng, so với mức 131,4 tỷ đồng của năm trước.

Nguồn lực

Về dòng tiền, tức nguồn lực của NCB, tính đến ngày 31/12/2025, NCB ghi nhận dòng tiền/nguồn lực thuần từ hoạt động kinh doanh đạt 1.911 tỷ đồng, tăng 26% so với năm trước. Dòng tiền từ hoạt động tài chính cũng tăng 14,5%, lên mức 7.500 tỷ đồng. Ở chiều đầu tư, dòng tiền vẫn âm nhưng đã cải thiện, từ mức âm 185,7 tỷ đồng xuống còn 119,5 tỷ đồng. Nhìn chung, các dòng tiền đều có xu hướng tích cực hơn, giúp lưu chuyển tiền thuần trong năm đạt 9.291 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2024.

Chi nguồn lực cho dự phòng rủi ro tăng mạnh vì sao?

Trong năm 2025, NCB ghi nhận chi nguồn lực dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh, với mức trích lập hơn 702 tỷ đồng, tăng 166,5% so với năm trước. Ngược lại, chi phí hoạt động được tiết giảm đáng kể, giảm khoảng 39,8% xuống còn khoảng 2.044 tỷ đồng. Dù vậy, dưới tác động của chi phí dự phòng tăng cao, lợi nhuận sau thuế của NCB chỉ đạt 78 triệu đồng.

no-xau-ncb-1776378927.JPG
Ảnh chụp màn hình tình hình nguồn lực xấu của NCB.

Vì sao, nguồn lực dự phòng rủi ro lại tăng mạnh, tăng tới 166,5%? Nguồn lực do đơn vị, tổ chức, cá nhân gửi vào ngân hàng là để kinh doanh, sinh lãi, vậy việc trích lập nguồn lực dự phòng rủi ro lớn như thế, báo hiệu điều gì?

Tính đến ngày 31/12/2025, tổng tài sản của NCB đạt 163.614,9 tỷ đồng, tăng 38% so với thời điểm cuối năm 2024. Trong cơ cấu tài sản, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước tăng mạnh 312%, lên mức 14.455 tỷ đồng; tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác cũng tăng 59,3%, đạt 24.008 tỷ đồng. Bên cạnh đó, dư nợ cho vay khách hàng ghi nhận mức tăng 37%, lên 97.544,5 tỷ đồng.

Như vậy, so với thời điểm còn là Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Nông thôn Sông Kiên, tổ chức tín dụng khác, dư nợ cho vay khách…đều tăng, sao phải trích nguồn lực dự phòng tăng tới 166,5% so với trước?

Về nguồn vốn, tiền gửi/nguồn lực của khách hàng tăng 32,6% so với thời điểm cuối năm 2024; tiền gửi của các tổ chức tín dụng (TCTD) khác tăng 26,9% lên mức 12.733,5 tỷ đồng…

Về chất lượng tín dụng, tính đến ngày 31/12/2025, tổng nợ xấu của NCB còn 8.416,9 tỷ đồng, giảm 5.490,3 tỷ đồng, tương ứng giảm 39,4% so với cuối năm 2024.

Trong đó, nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) giảm 49%, xuống 143,2 tỷ đồng; nợ nghi ngờ (nhóm 4) giảm 15,6%, còn 370,3 tỷ đồng; và nợ có khả năng mất vốn giảm 40,1%, còn 7.903,4 tỷ đồng. Qua đó, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của NCB đã cải thiện rõ rệt, từ 19,53% cuối năm 2024 xuống còn 8,62% tại thời điểm 31/12/2025.

Trước đó, tại báo cáo tài chính Kiểm toán năm 2023, tổng nợ xấu (nhóm 3,4,5) của NCB ở mức 16.468,9 tỷ đồng trên tổng dư nợ cho vay 55.344,2 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ xấu ở mức 29,75%; Năm 2022, tổng nợ xấu của NCB ở mức 8.556,4 tỷ đồng trên tổng dư nợ cho vay 47.722,2 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ xấu ở mức 17,92%...

ncb-1776378983.jpg
Nguồn lực đầu tư ngoài chưa xác định được giá trị của NCB. Ảnh chụp từ Báo cáo tài chính của NCB.

Tính đến ngày 31/12/2025, số lượng nhân viên của NCB là 2.318, tăng 233 nhân viên.

Nguồn lực đầu tư ngoài ngành, đến 31/12/2025, chưa thống kê được lợi nhuận

Theo Báo cáo tài chính được NCB công bố ngày 16/3 thì: Góp vốn/nguồn lực, đầu tư dài hạn của Ngân hàng TMCP Quốc Dân gồm: Công ty CP Khoáng sản Sài Gòn - Quy Nhơn; Công ty CP ĐT Sài Gòn; Công ty CP Chứng khoán Navibank; Công ty CP Đầu tư Phát triễn nhà máy điện Sài Gòn - Bình Thuận với tổng nguồn lực/vốn là 719.600 triệu đồng.

Cụ thể:

1) Ngân hàng sở hữu 3.500.000 cổ phần (với giá trị ghi sổ là 273,7 tỷ đồng) tương đương 3,18% vốn điều lệ của Công ty CP Khoáng sản Sài Gòn - Quy Nhơn (vốn điều lệ là 1.100 tỷ đồng, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu).

2) Ngân hàng sở hữu 16.500.000 cổ phần (với giá trị ghi sỗ là 338,2 tỷ đồng) tương đương 11,00% vốn điều lệ Công ty CP Đầu tư Sài Gòn (vốn điều lệ là 1.500 tỷ đồng, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu). Ngân hàng lập dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn dựa trên báo cáo tài chính chưa được kiểm toán của Công ty CP Đầu tư Sài Gòn.

3) Ngân hàng sở hữu 1.770.000 cổ phần (với giá trị ghi sỗ là 17,7 tỷ đồng) tương đương 7,02% vốn điều lệ Công ty CP Chứng khoán Navibank (vổn điều lệ là 252 tỷ đồng, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu).

4) Ngân hàng sở hữu 9.000.000 cổ phần (với giá trị ghi sổ là 90 tỷ đồng) tương đương 9,00% vốn điều lệ Công ty CP Đầu tư Phát triễn nhà máy điện Sài Gòn - Bình Thuận (vốn điều lệ theo Giấy đăng ký kinh doanh là 1.000 tỷ đồng, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu).

Tại báo cáo ngày 16/3/2026 do Tổng Giám đốc Tạ Kiều Hưng ký, Ngân hàng NCB chưa xác định được giá trị hợp lý của các khoản đầu tư nêu trên.

Cũng tại Báo cáo này, vì chưa xác định được giá trị của nguồn lực đầu tư nên NCB đã lên kế hoạch thoái vốn/nguồn lực đầu tư theo phương án cơ cấu lại trình Ngân hàng Nhà nước.

Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu NVB của Ngân hàng TMCP Quốc Dân trong giai đoạn từ năm 2025 đến kết phiên ngày 14/4/2026 cho thấy xu hướng phục hồi, nhưng vẫn đi kèm nhiều biến động. Sau khi rơi về vùng dưới 10.000 đồng/cp vào đầu năm 2025, mã này đã có nhịp tăng mạnh, lên khoảng 19.000 đồng/cp vào giữa năm, trước khi điều chỉnh và dần đi ngang trở lại. Đến giữa tháng 4/2026, giá cổ phiếu chủ yếu dao động quanh vùng 11.000 - 11.500 đồng/cp, phản ánh trạng thái tích lũy sau giai đoạn biến động mạnh.

Thay đổi nhân sự, thay đổi nguồn nhân lực

Báo cáo tài chính ngày 16/3/2026 của NCB ghi rõ, trước đây Ngân hàng Quốc Dân có tên gọi là Ngân hàng TMCP Nông thôn Sông Kiên được thành lập theo giấy phép số 00057/NH-GP ngày 18/9/1995 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp và giấy phép thành lập số 1217/GP-UB ngày 17/10/1995 do Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang (cũ) cấp.

Vào ngày 6/5/2014, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Dân được đổi tên từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Việt.

Ngày 10/3/2023, Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giấy phép số 12/GP-NHNN thay thế cho giấy phép số 00057/NH-GP ngày 18/9/1995 và được sửa đổi Điều 2 về Vốn điều lệ theo Quyết định số 2722/QĐ-NHNN ngày 20/12/2024. Đến ngày 31/7/2025, Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định sửa đỗi khoản 2, Điều 1 giấy phép 12/GP-NHNN ngày 10/3/2023 về việc sửa đỗi nội dung về địa chỉ đặt trụ sở chính theo quyết định số 1807/QĐ-QLGS5.

Ngày 9/1/2026, Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép số 01/GP-NHNN thay thế Giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng số 12/GP-NHNN ngày 10/3/2023 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Dân; Quyết định số 2722/QĐ-NHNN ngày 20/12/2024, Quyết định số 1807/QĐ-NHNN ngày 31/7/2025, Quyết định số 3895/QĐ-NHNN ngày 15/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đỗi, bỗ sung giấy phép thành lập và hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Dân.

Ngân hàng hoạt động kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 1700169765 (đăng ký lần đầu theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 050046 ngày 2/11/1995) và đăng ký thay đổi lần thứ 22 ngày 2/8/2023.

nvb-1847-0854-1776378719.webp
Ảnh nhadautu.vn.

Ngân hàng nắm quyền kiểm soát toàn bộ công ty con là Công ty TNHH Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản Ngân hàng Quốc Dân, được thành lập theo Quyết định số 2406/QĐ-NHNN ngày 19/12/2006 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Công ty Con này hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0304767745 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội cấp (đăng ký lần đầu ngày 28/12/2006 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh cấp, và đăng ký thay đổi lần 14 ngày 19/2/2024) với mức vốn điều lệ là 200.000.000.000 đồng, hoạt động chủ yếu là tiếp nhận, quản lý các khoản nợ tồn đọng của ngân hàng TMCP Quốc Dân và tài sản đảm bảo nợ vay liên quan đến các khoản nợ để xử lý, thu hồi vốn nhanh nhất.

Thời gian hoạt động của Ngân hàng là 50 năm kễ từ ngày cấp giấy phép đầu tiên.

Nhân sự, nguồn lực sau thay đổi của NCB

Theo Báo cáo tài chính do ông Tạ Kiều Hưng, Tổng Giám đốc, ký ngày 16/3/2026 thì, tính đến ngày 31/12/2025, vốn điều lệ của Ngân hàng là: 19.279.848 triệu đồng.

Hội đồng Quản trị bà Bùi Thị Thanh Hương - Chủ tịch; bà Hoàng Thu Trang - Phó Chủ tịch; ông Dương Thế Bằng - thành viên; bà Nguyễn Thị Hài Hòa - Thành viên; bà Trịnh Thanh Mai - thành viên. Ông Tạ Kiều Hưng - thành viên; bà Đỗ Thị Thu Hương - thành viên độc lập; bà Lâm Thùy Dung - thành viên độc lập, lần lượt bổ nhiệm ngày 24/12/2025, ngày 24/12/2025 và ngày 24/12/2025.

Người đại diện theo pháp luật Người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng là bà Bùi Thị Thanh Hương, Chủ tịch HĐQT. Theo giấy ủy quyền số 55/2023/QĐUQ-CTHĐQT ngày 21/4/2023, bà Bùi Thị Thanh Hương đã ủy quyền cho ông Tạ Kiều Hưng, Tổng Giám đốc ký báo cáo tài chính cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2025.

(Còn nữa)

Bảo Châu