Liệt sĩ, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Hòa Luông - Người con ưu tú của quê hương Tam Ngãi

Cuộc đời và những năm tháng chiến đấu của liệt sĩ, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Hòa Luông (1918–1952), nguyên Chỉ huy trưởng Công an xung phong huyện Cầu Kè (tỉnh Trà Vinh) trong kháng chiến chống thực dân Pháp, được tái hiện qua những trang hồi ký mộc mạc, giàu cảm xúc của người vợ là bà Nguyễn Thị Ca. Được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân năm 1998, ông đã trực tiếp chỉ huy hơn 50 trận đánh, cùng đồng đội tiêu diệt gần 60 tên địch. Theo hồi ký, ông cũng là nguyên mẫu của nhân vật chú Chín Luông – người chỉ huy bộ đội trong truyện ký Người mẹ cầm súng của nhà văn Nguyễn Thi.

Bà Nguyễn Thị Ca (1925–2013), quê xã Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (nay thuộc TP. Cần Thơ), đã âm thầm viết và hoàn thành cuốn hồi ký vào năm 1995. Sau khi bà qua đời năm 2013, con cháu trong gia đình mới phát hiện bản thảo.

Địa danh Tam Ngãi được nhắc đến trong hồi ký là xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh (nay là xã Tam Ngãi, tỉnh Vĩnh Long), quê hương của liệt sĩ, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Hòa Luông và Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thị Út (Út Tịch).

Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), được sự đồng ý của gia đình bà Nguyễn Thị Ca, Tạp chí điện tử Nhân lực Nhân tài Việt trân trọng giới thiệu tới bạn đọc nội dung cuốn hồi ký.

Kỳ I: Những ngày đầu Cách mạng mùa Thu

Tôi chợt nhận ra rằng đây chính là con đường mà anh loay hoay tìm kiếm bấy lâu, nên vừa bắt gặp, anh đã bộc lộ ngay những khao khát và năng lực của bản thân mình.

Tôi lấy chồng năm 17 tuổi.

Quê chồng (xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh) cách quê tôi một con sông cái lớn (sông Hậu) cộng thêm một nhánh sông dài. Ngày ấy rước dâu bằng ghe cà - dom trọng tải cỡ hai trăm giạ lúa, chèo từ đêm tới sáng mới tới nơi cho nên tôi cảm thấy quê chồng xa lăng lắc.

Không như bây giờ, con cháu tôi chỉ mất nửa tiếng đi xe máy, rồi thêm nửa tiếng qua phà là đã đặt chân lên vàm Trà Ếch, quê ngoại của chúng (xã Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng).

ghe-ca-dom-1783928677.jpg
Ghe cà - dom trên sông Hậu.

Chồng tôi là con trai thứ chín, cũng là trai út trong gia đình khá giả có nhiều ruộng, nhiều vườn. Vì là con trai út nên anh được mẹ chồng tôi và các anh em đặc biệt yêu chiều. Anh thứ chín, tên Luông - Nguyễn Hòa Luông, mọi người thường gọi là chín Luông. Anh còn một biệt danh nữa mà tôi không hiểu, cũng không ai giải thích cho tôi: Chín Tròn.

Khi tôi về nhà chồng thì cha chồng tôi đã qua đời từ lâu. Mẹ chồng tôi quán xuyến mọi việc gia đình. Bà giỏi giang, mạnh mẽ, quyết đoán. Tuy nhiên, với con trai út thì bà vẫn luôn hiền từ, bao dung như bao bà mẹ miền Nam khác.

Chồng tôi cứ thoải mái, thong dong rong chơi cùng bè bạn, ít khi phải bận tâm những công việc gia đình. Anh có nhiều bạn bè và hết lòng vì bạn. Anh hay đi lại với người này, người khác có khi mấy ngày mới về nhà.

Tôi còn nghe nói trước khi tôi về làm dâu, anh từng khăn gói lên Sài Gòn đến mấy tháng trời để học tiếng Pháp, nhưng rồi sau đó lại quay về. Hình như ở tuổi thanh niên đầy bức bối anh đang loay hoay tìm kiếm một con đường.

Cứ chiều chiều, anh hay xách cây đàn kìm xuống chiếc cầu hóng mát ở bờ sông, ngồi ghế đá nắn dây và lên câu vọng cổ. Mỗi lần khảy đàn anh lại cất giọng khào khào mỗi một câu quen thuộc “Tôi khóc đã lắm phen… a …rồi!”. Và ở bên kia sông, nghe tiếng đàn là chú ba Cho (tên thật là Đào Sanh Hương, đi kháng chiến có bí danh Bành Tô) bơi xuồng sang cùng hát. Cứ thế kẻ đàn, người hát, hợp nhau như thể Bá Nha, Tử Kỳ.

Bến sông gió lộng, cây che bóng mát một vùng, ghe khách thương hồ xuôi ngược hay dừng lại nghỉ ngơi, chuyện trò rôm rả. Anh Chín luôn cuốn hút mọi người. Anh nói chuyện có duyên, hài hước. Anh rất quan tâm những câu chuyện của khách phương xa đem đến từ mọi nẻo.

o-chin-luong-2-1783928840.jpg
Chân dung liệt sĩ, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Hòa Luông.

Rồi Cách mạng tháng Tám bùng lên, chồng tôi bỗng nhiên đứng trong hàng ngũ cách mạng, tập hợp thanh niên, dùng tầm vông, giáo mác tập đánh du kích, xáp lá cà. Làng xóm bừng bừng khí thế. Anh lăn vào phong trào quên ăn, quên ngủ, luôn tỏ ra là một thủ lĩnh nhiệt huyết và đầy năng lực.

Trời ạ, tôi có nằm mơ không trước sự đổi thay kỳ diệu này! Còn đâu chàng thanh niên chỉ biết rong chơi, tưởng như trói gà không chặt vậy mà phút chốc trở thành thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong, có khả năng tập hợp quần chúng, có óc tổ chức. Tôi chợt nhận ra rằng đây chính là con đường mà anh loay hoay tìm kiếm bấy lâu, nên vừa bắt gặp, anh đã bộc lộ ngay những khao khát và năng lực của bản thân mình.

Chú ba Cho cũng lên đường từ đó, cây cầu mát bên sông không còn là nơi họ nhàn nhã đàn ca nỉ non giọng ai giọng oán nữa. Họ đã lao vào cuộc chiến với khí thế cách mạng sục sôi của toàn dân tộc.

Thời gian này, cơ quan huyện bộ đến đóng ở nhà tôi, nam nữ có khoảng hai mươi người, làm việc rần rộ, máy móc, dụng cụ đầy nhà. Mẹ chồng tôi dang tay bảo bọc. Nhà cửa rộng rãi, lúa thóc đầy bồ, heo gà đầy sân, cây trái đầy vườn nên mọi người làm việc rất an tâm, thoải mái.

Chiều đến, cán bộ đoàn thể và dân chúng tụ tập đầy sân, già trẻ gái trai, thiếu niên nhi đồng ngồi xem Thanh niên Tiền phong tập võ. Thầy dạy võ vốn là viên quan hai Nhật Bản bỏ hàng ngũ theo cách mạng. Tiếng hò reo, cổ vũ nhiệt tình của khán giả làm nức lòng những chàng trai đầu trần chân đất, coi việc được đứng vào hàng ngũ Thanh niên Tiền phong là vinh dự tuyệt vời.

Không bao lâu giặc Pháp trở lại, đổ bộ đến Cầu Kè. Cơ quan, đoàn thể lo di chuyển người và đồ đạc. Gia đình tôi cũng lo tản cư, bỏ lại sau lưng tất cả. Tây trở lại, gia đình nào không có dính líu với cách mạng thì được yên ổn, còn gia đình tôi thì phải sơ tán.

Một thời gian sau thấy yên yên, mẹ chồng tôi và tôi trở về nhà, chồng tôi thì ở lại Khu 9. Về tới nơi, nhà cửa đã tan hoang. Việt gian dẫn Tây ra đốt nhà, cướp của. Chúng biết nhà tôi chứa cơ quan huyện bộ nên thẳng tay tàn phá. Cũng may nhà cháy chưa hết nên còn có chỗ cho mẹ con tôi dung thân, đồ đạc thì chúng lấy đi hết.

Mẹ chồng tôi và tôi sống trong thấp thỏm lo âu, không biết bọn tay sai sẽ dẫn Tây trở lại khi nào, nhà chỉ có hai phụ nữ và một đứa trẻ thơ sống nương tựa vào nhau.

Và rồi bọn chúng trở lại thật, không phải một lần mà rất nhiều lần. Việt gian dẫn Tây đến sục sạo, đe dọa, khủng bố. Mẹ chồng tôi tỏ ra đầy bản lĩnh. Giấu chút tiền bạc còn lại vào ống nhổ bã trầu, bà im lặng ngồi ngoáy trầu, lạnh lùng, mặc cho chúng hạch sách đủ điều, đòi đào bới lật tung cả nền nhà lên tìm vũ khí chồng tôi cất giấu.

Oái oăm thay, kẻ dẫn Tây ra khủng bố gia đình lại là đứa cháu gọi mẹ chồng tôi bằng cô ruột. Anh ta tên Sơn, làm xã trưởng nên gọi là xã Sơn. Xã Sơn luôn miệng hỏi mẹ chồng tôi: “Thằng Luông giấu vũ khí ở đâu?”. Rồi tung tin giả: “Thằng Luông bị bắt rồi, các người đừng trông mong gì nữa!”. Mẹ chồng tôi vẫn điềm nhiên: “Mầy muốn tìm thì cứ việc tìm, tao không biết!”

Chúng luôn rình mò, tìm kiếm xem chín Luông có về thăm gia đình không để bắt. Có khi chúng đứng bên kia sông bắn vải đạn qua làm cả nhà kinh hãi, rồi chúng ào qua khủng bố, hăm dọa, đòi đốt nhà, bắt người. Chúng đòi bắt tôi, tôi sợ quá giả đau bụng, nôn mửa. Tôi chuẩn bị sẵn nồi cháo nấu cho heo ăn, vải ra đầy mình, ôm bụng, quằn quại rên la (kế này mẹ chồng sắp đặt trước cho tôi), bọn Tây thấy vậy sợ quá, không dám lại gần.

Chúng tôi sống trong nơm nớp âu lo, không biết tai họa sẽ giáng xuống lúc nào.

Ở Khu 9, chồng tôi hoạt động nằm vùng tại địa bàn huyện Kế Sách với cương vị Trưởng Công an Quốc gia Tự vệ cuộc. Thời gian đầu cực kỳ khó khăn, gian khổ. Khu 9 tuy có vùng giải phóng rộng lớn nhưng hoạt động còn trong vòng bí mật. Các gia đình cơ sở giấu cán bộ trong nhà, thời đó chưa phổ biến đào hầm bí mật, lúc nào địch lùng căng quá thì cán bộ ra lùm, bụi lẩn tránh.

Một lần tôi đi thăm chồng, gặp đúng lúc Tây truy bố. Anh trốn ở ngoài lùm cây, bệnh sốt rét hoành hành anh vẫn cố chịu đựng. Chứng kiến sự gian khổ của chồng, tôi rất xúc động. Anh khuyên: “Em ở nhà phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy con thơ. Bác Hồ dạy chúng ta giờ đây phải kháng chiến trường kỳ, đến ngày độc lập gia đình sẽ sum họp”. Tôi lắng nghe lời anh nói, tinh thần cũng phấn khởi theo.

Hoạt động ở Kế Sách hơn một năm, anh xây dựng được phong trào, có tổ chức, có đoàn thể. Lúc này cơ sở vững mạnh, anh không còn ở lùm ở bụi nữa mà ở nhà thầy giáo Hưỡn, chủ tịch Mặt trận. Đến giữa năm 1947, phong trào ở đây đã mạnh, có lệnh trên gọi anh về huyện nhà công tác. Nghe tin Chín Luông đi, người dân địa phương ai cũng buồn, ngậm ngùi đưa tiễn đến tận bờ sông cái lớn.

Về huyện nhà, anh được cấp trên giao nhiệm vụ thành lập lực lượng CAXP địa phương, anh là chỉ huy trưởng. Lúc đầu Ban chỉ huy chỉ có ba người với một đội viên và một súng trường, dần dần mới có quân, đánh địch thu được thêm súng. CAXP đến đâu cũng được dân thương, rồi họ cho con em đi theo, lực lượng ngày càng lớn mạnh.

Tôi nhớ nhiều đêm giật mình thức giấc vì nghe súng ống khua lộp cộp, tiếng nói cười rôm rả. CAXP đánh trận về! Cả nhà bừng dậy. Họ hỉ hả khoe chiến lợi phẩm: Súng múc, súng trường, lựu đạn… Họ say sưa kể lại những tình huống trong chiến trận vừa rồi với giọng điệu cợt đùa, hài hước.

Ôi hình ảnh đó, âm thanh đó tôi nhớ như in, tưởng như mới hôm qua thôi. Những khuôn mặt trẻ măng, chất phác, hồn nhiên ra trận và hồn nhiên trở về. Họ vừa mới cận kề cái chết, vậy mà trông họ nhẹ nhàng, thanh thản như không.

ba-ca-1783928945.jpg
Bà Nguyễn Thị Ca thời điểm chấp bút viết hồi ký.

Anh Luông thường nói CAXP trẻ măng như vậy nhưng đánh giặc thì hết sức gan lì và hễ đánh là thắng. Còn anh, tôi biết anh cũng là một cấp chỉ huy hết sức gan lì và táo bạo, từ đó làm gương cho chiến sĩ của mình.

Là người chỉ huy, anh nói là làm, mà làm đúng theo những gì đã nói. Trong một cuộc họp tại nhà, tôi nghe anh bảo cấp dưới: “Khi xưa vua Quang Trung trước khi tiến quân ra Bắc có hứa với ba quân tướng sĩ rằng hẹn ngày mùng 5 sẽ ăn Tết tại Thăng Long. Mình bây giờ cũng noi theo vua Quang Trung, ba ngày xuân không ăn Tết, quyết tâm lập chiến công, diệt địch, lấy súng về làm quà Tết, mùng 5 mình sẽ ăn Tết. Nhứt định phải là mùng 5!”. Thế rồi y như lời nói, đúng ngày mùng 5 Tết anh em kéo về với chiến lợi phẩm đầy nhà. Rồi ngả heo mừng chiến thắng, nào bánh phồng, bánh tét các má gởi biếu, tôi ra công cất giữ để dành khao quân.

CAXP ăn Tết vui lắm. Năm nào cũng vậy, đúng mùng 5 là Tết của CAXP. Ở nhà nuôi heo, gà không bao giờ bán mà để dành nuôi quân. Anh Luông thương binh lính, binh lính cũng hết lòng thương anh và vô cùng kính phục người chỉ huy đầy dũng lược. Khi ra trận anh rất nghiêm kỷ luật, nhưng lúc về nghỉ dưỡng quân thì anh rất thân tình. Anh em đoàn kết, thương yêu nhau như người trong một gia đình và khi ra trận tất cả là một khối thống nhất.

Nguyễn Thị Ca