Những ngày tháng Hai âm lịch, khi gió biển dịu lại sau mùa đông dài, vùng biển Vạn Lộc Thanh Hoá rộn ràng bước vào mùa lễ hội. Từ sáng sớm, dòng người nô nức đổ về trung tâm văn hóa tam linh, cờ hội rực rỡ trong nắng, tiếng trống, tiếng chiêng vang lên hòa cùng tiếng sóng, tạo nên không gian vừa thiêng liêng, vừa náo nức, đậm đà bản sắc cư dân miền biển.
Vạn Lộc Thanh Hoá là vùng đất ven biển giàu truyền thống lao động, kiên cường mưu sinh và giàu bản sắc văn hóa. Với cư dân nơi đây, biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là một phần máu thịt, một phần ký ức, một phần tâm linh của cộng đồng. Chính vì vậy, Lễ hội Cầu ngư được hình thành từ nhu cầu tinh thần rất tự nhiên của người dân vùng biển.


Từ bao đời nay, trước mỗi mùa ra khơi, ngư dân lại thành kính làm lễ cầu mong trời yên biển lặng, mưa thuận gió hòa, tôm cá đầy khoang, người người bình an trở về. Ẩn sâu trong lễ hội là niềm tin dân gian mộc mạc mà bền chặt; là lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân đã khai phá đất đai, lập làng, gây dựng nghề biển; là sự tri ân đối với thần linh, đối với Cá Ông – Nam Hải Đại Tướng Quân – hình tượng linh thiêng đã ăn sâu vào tâm thức cư dân ven biển.
Đặc biệt, trong hệ thống tín ngưỡng của cư dân biển Vạn Lộc, hình tượng Nam Hải Đại Tướng Quân – tức Cá Ông (cá voi) – giữ vị trí trung tâm và mang ý nghĩa thiêng liêng sâu sắc. Theo quan niệm dân gian, đây không chỉ là một loài sinh vật của biển cả mà còn là vị thần hộ mệnh, thường xuyên cứu giúp ngư dân khi gặp hoạn nạn giữa sóng gió đại dương. Chính từ những trải nghiệm thực tế qua nhiều thế hệ, ngư dân đã tôn kính Cá Ông như một “ân nhân cứu mạng”, phong tặng danh hiệu cao quý là Nam Hải Đại Tướng Quân. Việc thờ phụng, tri ân vị thần này trong Lễ hội Cầu ngư không chỉ thể hiện lòng biết ơn đối với thiên nhiên mà còn phản ánh chiều sâu nhân văn trong đời sống tinh thần của cư dân vùng biển, nơi con người luôn sống trong mối quan hệ hài hòa, gắn bó và tôn trọng biển cả.
Từ chiều sâu lịch sử, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng ấy, Lễ hội Cầu ngư Vạn Lộc đã được gìn giữ, bồi đắp qua nhiều thế hệ và đến năm 2017 được Nhà nước công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Danh hiệu này không chỉ là niềm tự hào của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân địa phương mà còn là sự ghi nhận đối với một giá trị văn hóa tiêu biểu của cư dân biển xứ Thanh. Đồng thời, đây cũng là trách nhiệm lớn trong việc bảo tồn, phát huy di sản, để lễ hội không chỉ tồn tại như một ký ức đẹp của quá khứ mà còn tiếp tục sống động trong đời sống hôm nay.
Lễ hội Cầu ngư Vạn Lộc Thanh Hoá năm 2026 được tổ chức trong 3 ngày, từ 9 đến 11/4/2026 (tức ngày 22 đến 24/2 âm lịch năm Bính Ngọ), với quy mô cấp xã nhưng mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi địa phương. Sự chuẩn bị chu đáo, trang trọng; sự hiện diện của lãnh đạo tỉnh, các sở, ban, ngành, nguyên lãnh đạo qua các thời kỳ, các hội đồng hương, doanh nghiệp, cùng đông đảo Nhân dân và du khách thập phương đã cho thấy sức hút đặc biệt của lễ hội. Điều đó khẳng định Lễ hội Cầu ngư không chỉ là sinh hoạt văn hóa của một làng biển, mà đã trở thành điểm hội tụ của tình cảm quê hương và niềm tự hào cộng đồng.
Giá trị cốt lõi của lễ hội trước hết thể hiện ở phần lễ – nơi lưu giữ đậm nét hồn cốt truyền thống. Trong không khí trang nghiêm, tiếng trống hội vang lên như đánh thức cả một vùng văn hóa biển. Những nghi lễ rước kiệu, dâng hương, tế lễ, rước Long Châu được tổ chức với sự thành kính, trang trọng, gợi lên cảm giác thiêng liêng sâu lắng. Ở đó có hình ảnh các cụ cao niên nghiêm cẩn trong từng nghi thức; những thanh niên, thiếu nữ trong trang phục lễ hội với nét mặt thành kính; những em nhỏ háo hức dõi theo từng đoàn rước. Chính những khoảnh khắc ấy tạo nên giá trị giáo dục sâu sắc, truyền lại cho thế hệ trẻ tình yêu quê hương, lòng kính trọng tiền nhân và ý thức gìn giữ di sản.

Nếu phần lễ là phần hồn thì phần hội chính là nơi thể hiện sinh động sức sống cộng đồng. Sau không khí trang nghiêm là những hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian, giao lưu đầy sôi nổi. Tiếng cười nói, sự hồ hởi lan tỏa khắp không gian lễ hội. Người dân đến với hội không chỉ để vui chơi mà còn để gặp gỡ, chia sẻ, để cảm nhận rõ hơn sự gắn kết của cộng đồng sau những ngày mưu sinh vất vả. Lễ hội vì thế trở thành một thiết chế văn hóa quan trọng, góp phần củng cố tình làng nghĩa xóm, gắn kết các dòng họ, bản hội, kết nối con em xa quê và du khách gần xa.
Đối với cư dân vùng biển, Lễ hội Cầu ngư còn là điểm tựa tinh thần đặc biệt. Biển cả vừa hào phóng vừa khắc nghiệt, mỗi chuyến ra khơi luôn tiềm ẩn rủi ro. Trước biển lớn, con người cần một nơi để gửi gắm niềm tin. Lễ hội chính là nơi như thế. Ở đó, ngư dân gửi gắm khát vọng bình an, mong ước mùa cá bội thu, hy vọng về cuộc sống ấm no. Sau mỗi mùa lễ hội, người dân như được tiếp thêm sức mạnh tinh thần để vững vàng bám biển, kiên trì với nghề, tin tưởng vào tương lai. Đây là giá trị nhân văn sâu sắc làm nên sức sống lâu bền của lễ hội.
Nhìn rộng hơn, Lễ hội Cầu ngư Vạn Lộc mang trong mình giá trị tiêu biểu của văn hóa Việt Nam. Với dải bờ biển dài và hàng triệu người sống bằng nghề biển, những lễ hội như Cầu ngư không chỉ phản ánh đời sống tinh thần của một địa phương mà còn là hình ảnh thu nhỏ của văn hóa biển Việt Nam. Ở đó có sự giao thoa hài hòa giữa tín ngưỡng dân gian và lao động sản xuất, giữa tâm linh và đời sống thực tế, giữa truyền thống và hiện đại. Chính sự giao thoa ấy tạo nên nét đặc sắc riêng, làm nên sức hấp dẫn bền vững của lễ hội.
Trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ bị mai một, việc bảo tồn và phát huy Lễ hội Cầu ngư càng trở nên cấp thiết. Bảo tồn không chỉ là giữ nguyên hình thức mà quan trọng hơn là làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống cộng đồng. Công tác tổ chức lễ hội cần ngày càng chuyên nghiệp, quy củ, an toàn; không gian lễ hội cần được quy hoạch hợp lý; công tác truyền thông, quảng bá cần được chú trọng. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, gắn lễ hội với các hoạt động học tập, trải nghiệm để các em hiểu, tự hào và chủ động tiếp nối giá trị di sản.
Việc đẩy mạnh xã hội hóa cũng là hướng đi cần thiết. Sự đóng góp của các dòng họ, bản hội, doanh nghiệp, hội đồng hương và con em xa quê không chỉ tạo nguồn lực mà còn thể hiện tinh thần gắn bó, hướng về cội nguồn. Tuy nhiên, trong quá trình phát huy, cần tránh xu hướng thương mại hóa, hình thức hóa, làm mất đi sự mộc mạc, linh thiêng vốn có. Việc bổ sung các yếu tố mới cần được thực hiện có chọn lọc, tinh tế, trên nền tảng tôn trọng giá trị truyền thống.
Một hướng phát triển quan trọng là gắn Lễ hội Cầu ngư với du lịch văn hóa biển. Với bề dày lịch sử, sắc thái tín ngưỡng đặc trưng và không khí lễ hội hấp dẫn, Vạn Lộc hoàn toàn có thể xây dựng Lễ hội Cầu ngư thành sản phẩm du lịch tiêu biểu. Nếu được đầu tư đúng hướng, lễ hội không chỉ quảng bá hình ảnh quê hương mà còn góp phần phát triển kinh tế địa phương, nâng cao đời sống Nhân dân. Khi đó, di sản văn hóa không chỉ được gìn giữ bằng tình cảm mà còn được tiếp sức bằng chính giá trị phát triển mà nó mang lại.

Có thể khẳng định, Lễ hội Cầu ngư Vạn Lộc Thanh Hoá năm 2026 là minh chứng sinh động cho sức sống của văn hóa biển trong đời sống đương đại. Đó là nơi hội tụ niềm tin, ký ức, truyền thống và khát vọng phát triển. Giữ gìn lễ hội chính là giữ gìn hồn biển, giữ gìn căn cốt văn hóa của một vùng đất đã bao đời sống cùng biển, nhờ biển và vươn lên từ biển.
Với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự vào cuộc của chính quyền, sự đồng lòng của Nhân dân và sự chung tay của cộng đồng, tin rằng Lễ hội Cầu ngư Vạn Lộc Thanh Hoá sẽ tiếp tục được bảo tồn, phát huy đúng hướng, trở thành điểm nhấn văn hóa đặc sắc, bồi đắp niềm tin cho ngư dân, lan tỏa niềm tự hào quê hương và góp phần khẳng định vẻ đẹp bền vững của văn hóa Việt Nam nơi đầu sóng ngọn gió./.