Đảng Cộng sản Việt Nam - Từ đại hội đến đại hội: Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng

Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng diễn ra từ ngày 11-19/2/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa (cũ), tỉnh Tuyên Quang. Đại hội lần thứ II của Đảng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của Đảng ta, đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.

Trước thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung lãnh đạo kháng chiến, khôn khéo loại dần những kẻ thù, tranh thủ thời gian để chuẩn bị điều kiện và lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài. Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, động viên toàn dân tăng gia sản xuất; tổ chức cuộc Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội khóa I, thành lập Chính phủ và ban hành Hiến pháp năm 1946.

images1340889-1-1767828048.jpg
Đồng chí Trường Chinh đọc báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II,2/1951. Ảnh Tư liệu BTLSQG.

Để bảo vệ hòa bình, độc lập của dân tộc, chúng ta kiên trì đàm phán, thương lượng với thực dân Pháp. Song bọn thực dân quyết xâm lược nước ta một lần nữa. Chúng gây hấn ở Lạng Sơn, Hải Phòng rồi tiến đánh Hà Nội. Càng nhân nhượng, chúng càng lấn tới, buộc dân tộc ta phải cầm súng chiến đấu. Từ ngày 18 đến 19/12/1946, tại làng Vạn Phúc, thị xã Hà Đông (Hà Tây, nay là Hà Nội), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng nêu quyết tâm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngay hôm đó 19/12, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Sau đó 3 ngày, ngày 22/12, Đảng ta ra Chỉ thị toàn dân kháng chiến. Năm 1947, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh viết tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” xác định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính. Các nghị quyết hội nghị Trung ương và Hội nghị quân sự toàn quốc do Trung ương tổ chức đã từng bước hoàn chỉnh đường lối kháng chiến của Đảng.

Sau chiến thắng thu - đông năm 1947 và Chiến dịch Biên giới năm 1950, thế và lực của cuộc chiến tranh Nhân dân phát triển vượt bậc. Để tiếp tục phát triển đường lối kháng chiến, kiến quốc, Trung ương Đảng quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng.

Dự đại hội có 158 đại biểu. Đại hội đã nghiên cứu và thảo luận Báo cáo chính trị, Báo cáo bàn về cách mạng Việt Nam, Báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng, Báo cáo bổ sung về Mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền dân chủ Nhân dân, Quân đội Nhân dân, kinh tế tài chính và về văn nghệ... Đại hội đã quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng.

Đại hội đánh giá: Thắng lợi của cách mạng và kháng chiến đã khẳng định đường lối, chính sách của Đảng nói chung là đúng; cán bộ, đảng viên của Đảng là những chiến sĩ dũng cảm, tận tụy hy sinh, được quần chúng tin yêu... Song chúng ta có những khuyết điểm cần sửa chữa như học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin còn yếu, tư tưởng cán bộ chưa vững vàng, công tác tổ chức, lề lối làm việc còn chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi, công thần.

files-library-images-site-1-20210111-web-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-ii-cua-dang-dang-lanh-dao-toan-dan-khang-chien-kien-quoc-122-085709-1767827952.jpg
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II diễn ra tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa (cũ), tỉnh Tuyên Quang. Ảnh Tư liệu.

Để khắc phục những bệnh trên, Đảng phải tìm cách giáo dục, phổ biến Chủ nghĩa Mác-Lênin để nâng cao tư tưởng chính trị cho đảng viên, củng cố mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, đề cao tinh thần kỷ luật, tính nguyên tắc của đảng viên, mở rộng phong trào phê bình và tự phê bình ở trong Đảng, ở các cơ quan đoàn thể, trên báo chí cho đến nhân dân một cách thường xuyên, thiết thực, dân chủ và phải có sự kiểm tra chặt chẽ.

Đại hội xác định: Kẻ thù cụ thể trước mắt của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc xâm lược (thực dân Pháp, can thiệp Mỹ) và bù nhìn Việt gian phản nước đại biểu quyền lợi cho đại địa chủ, phong kiến phản động và tư sản mại bản. Kẻ thù số một của cách mạng Việt Nam hiện nay là chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là tiêu diệt bọn đế quốc xâm lược, đánh đổ bọn bù nhìn Việt gian phản nước, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất; xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong kiến khăng khít với nhau. Lúc này phải tập trung mọi lực lượng để kháng chiến, đặng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc... Nhiệm vụ phản phong kiến nhất định phải làm đồng thời với nhiệm vụ phản đế, nhưng làm có kế hoạch, từng bước một, để vừa đoàn kết kháng chiến, vừa bồi dưỡng lực lượng cách mạng đặng mau tiêu diệt bọn đế quốc xâm lược, hoàn thành giải phóng dân tộc. 

Động lực của cách mạng Việt Nam lúc này là công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức và tư sản dân tộc; ngoài ra là những thân sĩ (địa chủ), yêu nước và tiến bộ. Những giai cấp, tầng lớp và phần tử đó hợp thành nhân dân. Nền tảng của nhân dân là công, nông và lao động trí thức. Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân... Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam nhất định sẽ đưa Việt Nam tiến tới chủ nghĩa xã hội.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm có 7 ủy viên chính thức và 1 ủy viên dự khuyết; bầu đồng chí Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng, đồng chí Trường Chinh là Tổng Bí thư. 

Đại hội đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do đại hội vạch ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu lâu dài của cách mạng. 

Q.N (t/h)