Vọng khúc nhân gian: Xẩm và mạch nguồn 700 năm bền bỉ

Từ những chiếu đất ven chợ đến sân khấu nghệ thuật đương đại, hát xẩm đã trải qua hành trình gần 700 năm tồn tại và thích ứng cùng thời cuộc. Từng bị gắn với định kiến là “tiếng hát ăn xin”, loại hình nghệ thuật dân gian này vẫn bền bỉ chảy qua nhiều biến động lịch sử để trở thành một di sản sống của văn hóa Việt.

Theo những ghi chép được cố nhạc sĩ Thao Giang lưu giữ, nghề hát xẩm có lịch sử hơn 700 năm, được cho là khởi nguồn từ thời nhà Trần. Tương truyền, vua Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Trong chuyến đi tìm ngọc quý dâng vua, hoàng tử Đĩnh tìm được viên ngọc hiếm. Vì lòng tham, Trần Quốc Toán đã chọc mù mắt em rồi cướp lấy viên ngọc, bỏ mặc Đĩnh giữa chốn rừng sâu.

Trong hoàn cảnh cùng cực, hoàng tử Đĩnh lần mò kiếm sống giữa núi rừng. Ông nhặt những thanh tre khô gõ vào nhau tạo âm thanh dẫn dụ chim chóc mang thức ăn tới. Từ dây rừng lấy ở cây song mây, ông làm thành dây đàn rồi cất lên những thanh âm đầu tiên, gửi gắm nỗi đau và thân phận của mình qua lời ca.

Sau khi được người dân cứu giúp và đưa ra khỏi rừng, ông bắt đầu cuộc sống mưu sinh bằng nghệ thuật. Những khúc hát cất lên ở đầu làng, góc chợ hay ngã ba đường dần được lưu truyền rộng rãi. Về sau, dù được vua cho gọi trở lại hoàng cung, Trần Quốc Đĩnh vẫn từ chối. Ông chọn tiếp tục cuộc sống dân dã và truyền dạy nghề hát cho những người khiếm thị để họ có kế sinh nhai. Từ đó, ông được tôn là ông tổ của nghề hát xẩm và ngày 22/2 âm lịch hằng năm trở thành ngày giỗ tổ nghề.

1-1780852578.png

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng câu chuyện trên chủ yếu mang tính huyền tích. Theo một số tài liệu, chính sử không ghi nhận các hoàng tử mang tên Trần Quốc Toán hay Trần Quốc Đĩnh dưới thời vua Trần Thánh Tông. Điều đó cho thấy nguồn gốc của hát xẩm hiện vẫn được lưu truyền chủ yếu qua dân gian hơn là các ghi chép lịch sử chính thống.

Dẫu vậy, huyền tích ấy phần nào phản ánh hành trình hình thành của một loại hình nghệ thuật gắn bó mật thiết với đời sống bình dân. Từ những câu chuyện được kể bên đường, hát xẩm dần bước ra khỏi truyền thuyết để trở thành một phần của sinh hoạt văn hóa dân gian Việt Nam suốt nhiều thế kỷ.

Gắn bó với những bến nước, góc chợ, ngã ba đường và thường được thực hành bởi các nghệ nhân khiếm thị, xẩm từng bị đóng khung trong định kiến là “tiếng hát ăn xin bên lề”. Hình ảnh người nghệ sĩ ngồi bên chiếc nón mê hay chiếc thau đồng nhận tiền thưởng từ người nghe khiến không ít người hiểu sai về bản chất của loại hình nghệ thuật này.

Thực tế, việc biểu diễn nơi công cộng và nhận sự ủng hộ từ khán giả không đồng nghĩa với hoạt động xin ăn. Đó là phương thức tồn tại của một loại hình nghệ thuật dân gian và cũng là cách những người nghệ sĩ nuôi sống bản thân bằng chính tài năng của mình.

Không chỉ là phương tiện mưu sinh, trong nhiều giai đoạn lịch sử, hát xẩm còn đảm nhận vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội. Nghệ sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian Mai Đức Thiện cho biết nhiều nghệ nhân, trong đó có không ít người khiếm thị, đã trở thành những người truyền tin đặc biệt, góp phần vào các phong trào cách mạng của đất nước.

2-1780852579.png
3-1780852579.png

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các nghệ sĩ hát xẩm tham gia tuyên truyền cách mạng, lan tỏa tinh thần yêu nước và cổ vũ nhân dân đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, những chiếu xẩm tiếp tục trở thành kênh chuyển tải chủ trương, chính sách của Nhà nước đến với người dân.

Không sân khấu rực rỡ, không lớp hóa trang cầu kỳ, một chiếu xẩm đôi khi chỉ bắt đầu bằng vài nhạc cụ quen thuộc và người nghệ sĩ giữa khoảng sân bình dị. Chính sự mộc mạc ấy đã khiến xẩm mang sức hút rất riêng với tiếng đàn, lời ca và những câu chuyện sinh hoạt đời thường quyện hòa vào nhau.

Trong một chiếu xẩm, tiếng đàn thường cất lên trước lời ca. Thanh âm của xẩm réo rắt, chậm rãi tựa tiếng chuyện trò trong đời sống thường nhật. Bởi vậy mà những nhạc cụ trong xẩm không đơn thuần giữ vai trò đệm hát, mà như đang đối thoại cùng người nghệ sĩ.

Đàn bầu được xem là nhạc cụ linh hồn của xẩm. Chỉ với một dây đàn cùng kỹ thuật nhấn và rung cần, người nghệ nhân có thể tạo ra nhiều sắc thái âm thanh, từ vui tươi, dí dỏm đến sâu lắng, da diết. Ngoài ra, xẩm còn đặc sắc với sự kết hợp của đàn nhị, sênh và trống mảnh. Nếu đàn nhị giữ vai trò dẫn dắt giai điệu thì sênh giúp giữ nhịp cho lời ca, còn trống mảnh tạo điểm nhấn, tăng sự dồn dập và kịch tính cho mỗi chiếu xẩm.

Nghệ sĩ Tạ Hạnh - Giám đốc Trung tâm Nghệ thuật Truyền thống UNESCO Hà Nội) chia sẻ: “Một chiếu xẩm không thể thiếu sênh, trống và đàn. Đàn bầu là nhạc cụ gắn bó sâu sắc với xẩm. Ngày xưa, các cụ đi hát rong đều chơi đàn bầu rất giỏi”. Theo bà, về sau đàn nhị mới dần xuất hiện để việc di chuyển và biểu diễn thuận tiện hơn. Tuy nhiên, trong ký ức của nhiều nghệ nhân, đàn bầu vẫn là nhạc cụ gắn với những “cây đa cây đề” của nghề hát xẩm thuở trước.

6-1780852579.png

Đặc trưng lớn nhất của xẩm vẫn là tính hiện thực sâu sắc. Người nghệ sĩ vừa hát vừa kể về những câu chuyện chuyện mưu sinh, cảnh nghèo khó, tình yêu đôi lứa hay cả những thói hư tật xấu trong xã hội. Lời xẩm là sự kết hợp hài hòa giữa ca dao, tục ngữ và thơ dân gian của các tác giả như Nguyễn Khuyến, Tú Mỡ hay Nguyễn Bính. Qua cách xếp điệu, lồng điệu xẩm vào thơ,  người nghệ nhân biến câu chữ thi ca trở thành lời hát mang đậm chất riêng của xẩm.

Trong nhiều giai đoạn lịch sử, những người hát xẩm không chỉ mưu sinh bằng lời ca tiếng hát mà còn trở thành những “người đưa tin” của đời sống xã hội. Rong ruổi từ bến nước, chợ quê đến ga tàu, phố thị, họ mang theo những câu chuyện mình nghe được, chứng kiến được trên hành trình mưu sinh để kể lại cho người dân qua làn điệu xẩm. 

Chuyện thời cuộc, phong trào bình dân học vụ, chuyện học chữ hay những vấn đề xã hội của từng thời kỳ đều có thể trở thành chất liệu trong lời hát. Vì vậy, xẩm không chỉ phản ánh đời sống dân gian mà còn lưu giữ hơi thở của từng giai đoạn lịch sử qua tiếng đàn, câu ca của những nghệ nhân hát rong.

Đến nay, nghề hát xẩm “rong ruổi” khắp phố phường như trước đã không còn phổ biến. Dẫu vậy, nghệ thuật hát xẩm vẫn đang được gìn giữ bởi các thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân và những người yêu thích bộ môn nghệ thuật này. 

Trong bối cảnh hiện tại, chủ thể hát xẩm đã thay đổi, từ nghệ sĩ không chuyên, những người yêu thích văn hóa dân gian đều có thể hát xẩm. Không gian thực hành diễn xướng của xẩm cũng đã khác xưa. Xẩm được biểu diễn trên sân khấu, là môn nghệ thuật truyền thống được giao lưu, quảng bá trên thế giới, được lưu truyền và mang bản sắc văn hóa khu vực. 

Có thể thấy, bản chất của xẩm là sự biến chuyển, thích ứng. Nghệ thuật hát xẩm ngày càng được hoàn thiện, có hệ thống làn điệu và được thực hành ở nhiều nơi với các hình thái khác nhau. Theo tài liệu của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Việt Ngữ năm 1964, hát xẩm có tám làn điệu, nhưng mỗi làn điệu lại được người hát xẩm biểu diễn khác nhau tùy vào không gian biểu diễn và đối tượng thưởng thức.

Nghệ thuật hát xẩm có sức sống vô cùng mãnh liệt, luôn luôn tìm cách làm mới mình để phù hợp với thời thế. Tuy chủ thể đã khác, không gian thực hành đã khác, song các nhóm thực hành hát xẩm các thế hệ sau này đều biết cách kế thừa, tiếp nối, sáng tạo xẩm với phong cách riêng nhưng vẫn mang đặc trưng của xẩm.

11-1780852580.png

Hiện nay, hát xẩm đang từng bước được khôi phục thông qua việc hình thành các chiếu xẩm và câu lạc bộ xẩm ở nhiều địa phương. Không chỉ xuất hiện trong không gian diễn xướng truyền thống, xẩm còn trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tác âm nhạc đương đại và được đưa lên sân khấu trong một số chương trình biểu diễn nghệ thuật. 

Chia sẻ về sự phát triển của xẩm những năm gần đây, anh Ngô Văn Hảo - Chủ nhiệm CLB Xẩm 48h bày tỏ: “Việc làm mới hát xẩm cần dựa trên sự am hiểu sâu sắc về giá trị truyền thống. Nếu sáng tạo quá đà, xẩm có thể đánh mất bản sắc vốn có và không còn giữ được những tinh hoa của cha ông. Trong khi đó, việc chỉ sử dụng vài chất liệu bề nổi, thiếu hiểu biết về nhịp phách, lối nhấn nhá đặc trưng của xẩm để biến tấu, dễ khiến loại hình nghệ thuật này bị biến chất.” 

Hát xẩm đang từng bước tìm lại chỗ đứng bằng sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Dẫu có nhiều đổi thay trong cách thể hiện, điều cốt lõi vẫn là giữ được hồn cốt của xẩm để loại hình nghệ thuật dân gian này có thể hòa nhập cùng thời đại mà không đánh mất bản sắc vốn có. 

Từ những “chiếu đất” năm nào, hát xẩm ngày nay đã trở thành một “di sản sống” đầy kiêu hãnh của quốc gia. Năm 2005 đánh dấu một mốc son quan trọng khi sân khấu “Hà Nội 36 phố phường” tại chợ Đồng Xuân chính thức được Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam khôi phục. Đó là khởi đầu cho cuộc lội ngược dòng của xẩm: từ thân phận hát rong trở thành một loại hình nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp.

Vị thế ấy càng được khẳng định khi hồ sơ nghệ thuật hát xẩm được đệ trình lên UNESCO để ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Cột mốc này đã mở ra chương mới, hồi sinh loại hình nghệ thuật từng đứng bên bờ vực lãng quên trên bản đồ văn hóa dân tộc.

Xẩm trong kỷ nguyên số đã trở thành một thực thể nghệ thuật đủ nội lực, đứng song hành cùng những thể loại âm nhạc hiện đại. Sức hấp dẫn của xẩm đã thôi thúc các nghệ sĩ trẻ mượn chất liệu xưa để kiến tạo nên những bản “hit” triệu lượt xem, đưa âm hưởng dân gian tiếp cận trực diện với dòng chảy âm nhạc thị trường. 

10-1780852579.png
9-1780852579.png

Nhưng để xẩm không chỉ dừng lại ở sự trỗi dậy nhất thời sau một giấc ngủ dài, tương lai của loại hình này cần những bước đi bền vững hơn. Đó là lý do những nghệ sĩ gạo cội như NSND Xuân Hoạch vẫn miệt mài duy trì và mở rộng quy mô các lớp dạy xẩm miễn phí. Với ông, tương lai của xẩm nằm ở việc “gieo mầm” bền bỉ, giữ cho lề lối cổ truyền không bị lai căng trước những biến tấu dễ dãi. 

Bảo tồn xẩm trong kỷ nguyên mới, suy cho cùng, là cuộc chạy đua tiếp sức giữa các thế hệ. Nếu những nghệ sĩ gạo cội lo phần “giữ gốc” qua  lửa nghề nhiệt huyết, thì người trẻ lại lo phần “vươn cành” bằng tư duy quảng bá năng động của mình. Tất cả với một mục tiêu: giữ nét xẩm xưa cho tương lai ngày mai.

Hơn 700 năm qua, loại hình nghệ thuật ấy ngày càng chứng tỏ bản năng thích nghi đáng kinh ngạc giữa dòng chảy của thời đại. Xẩm luôn biết cách thời sự hóa những làn điệu cổ từ đạo hiếu nghìn đời đến nhịp sống của “kỷ nguyên vươn mình”. 

Sự chuyển mình ấy không đồng nghĩa với sự biến tấu, hòa tan mà nó là sự sáng tạo có liều lượng trên nền cổ truyền vững chãi. Một loại hình nghệ thuật vừa có thể hát về nhân tình thế thái, vừa tấu lên được hơi thở đương đại thì chắc chắn sẽ không thể mất đi. 

Giữa hàng vạn thanh âm xô bồ của thời đại, tiếng nhị trong một chiếu xẩm đêm phố vẫn có cách khiến người ta chậm lại vài giây để lắng nghe. Và có lẽ, những lời ca xẩm cứ thế sẽ còn chảy mãi như một mạch ngầm bền bỉ, khẳng định một bản sắc không thể trộn lẫn của tâm hồn Việt./.

Hà Giang