Việt Nam tăng 5 bậc trong bảng xếp hạng nhà khoa học có ảnh hưởng toàn cầu

Có 121 nhà khoa học làm việc tại Việt Nam được ghi danh trong bảng xếp hạng ảnh hưởng khoa học năm 2026, đưa Việt Nam lên vị trí 51 thế giới. VinUniversity là đơn vị có số nhà nghiên cứu góp mặt nhiều nhất, với 16 người.

Số lượng nhà khoa học làm việc tại Việt Nam lọt vào nhóm 2% có ảnh hưởng hàng đầu thế giới tiếp tục tăng trong năm 2026. Dữ liệu công bố ngày 7/10 cho thấy, Việt Nam có 121 người trong bảng xếp hạng thành tựu nghiên cứu trọn đời, nhiều hơn 27 người so với năm trước. Mức tăng gần 29% giúp Việt Nam cải thiện thứ hạng quốc tế thêm 5 bậc.

Xét theo đơn vị công tác, VinUniversity đứng đầu với 16 nhà khoa học, theo sau là Đại học Tôn Đức Thắng với 14 người và Đại học Duy Tân với 13 người. Đại học Quốc gia Hà Nội ghi nhận 7 người, còn Đại học Bách khoa Hà Nội có 6 người. Tổng cộng, các nhà nghiên cứu trong danh sách đang làm việc tại 44 trường đại học và cơ sở nghiên cứu ở Việt Nam.

Đáng chú ý, số liệu này không chỉ tính các nhà khoa học mang quốc tịch Việt Nam. Cách thống kê dựa trên nơi công tác nên những học giả nước ngoài làm việc tại các cơ sở giáo dục, nghiên cứu trong nước cũng được tính vào kết quả.

Trong số những người có thứ hạng đáng chú ý, Phó giáo sư Hoàng Anh Tuấn thuộc Đại học Giao thông vận tải TP HCM đứng thứ 11.632 toàn cầu, xếp thứ 129 trong lĩnh vực năng lượng. Chỉ số h-index của ông đạt 70 sau khi loại trừ các lượt tự trích dẫn. Hướng nghiên cứu của ông tập trung vào chuyển đổi năng lượng, nhiên liệu sạch và ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tối ưu quy trình, giảm phát thải.

Giáo sư Đỗ Ngọc Minh, được ghi nhận tại VinUniversity, xếp thứ 19.173 thế giới và thứ 450 trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, xử lý ảnh. Ông có 19.053 lượt trích dẫn, với h-index đạt 56. Các chủ đề nghiên cứu chính gồm xử lý tín hiệu, tạo ảnh bằng phương pháp tính toán và nhận thức máy.

Trường Đại học FPT cũng có bốn giảng viên, nghiên cứu viên xuất hiện trong danh sách, gồm Tiến sĩ Hoàng Mạnh Tuấn thuộc Bộ môn Toán; Tiến sĩ Nguyễn Phi Hùng thuộc Khoa Kinh doanh - Luật; Thạc sĩ Ngô Thị Thúy An, Phó giám đốc cơ sở Cần Thơ; và Tiến sĩ Nguyễn Lương Vương thuộc Khoa Trí tuệ nhân tạo.

khoa-hoc-1791542683.jpg
Ảnh minh họa

Bảng xếp hạng được xây dựng bởi nhóm nghiên cứu do Giáo sư John P.A. Ioannidis tại Đại học Stanford dẫn dắt, sử dụng dữ liệu trích dẫn từ Scopus của Elsevier. Hệ thống gồm hai bảng riêng: một bảng phản ánh ảnh hưởng tích lũy trong toàn bộ sự nghiệp và một bảng đánh giá tác động nghiên cứu trong một năm cụ thể. Với phiên bản năm 2026, dữ liệu trích dẫn được cập nhật đến hết năm 2025.

Thay vì chỉ đếm số bài báo đã công bố, hệ thống kết hợp nhiều thước đo để đánh giá ảnh hưởng học thuật. Trong đó có tổng số lượt trích dẫn, h-index, chỉ số điều chỉnh theo số lượng đồng tác giả và mức độ trích dẫn của những công trình mà nhà nghiên cứu giữ vai trò tác giả duy nhất, tác giả đầu hoặc tác giả cuối. Dữ liệu cũng cho phép đối chiếu kết quả trước và sau khi loại bỏ tự trích dẫn.

Tuy nhiên, vị trí trong bảng xếp hạng không phải thước đo tuyệt đối về năng lực hay giá trị của một nhà khoa học. Các chỉ số trích dẫn có thể khác biệt đáng kể giữa những ngành nghiên cứu, đồng thời chịu tác động từ quy mô cộng đồng học thuật, số lượng công bố và thói quen trích dẫn của từng lĩnh vực.

Một công trình được trích dẫn nhiều chưa chắc đã có giá trị ứng dụng lớn hoặc tạo ra tác động xã hội tương xứng. Ngược lại, những nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn nhưng phục vụ một nhóm chuyên môn hẹp có thể không đạt số lượt trích dẫn cao. Vì vậy, danh sách Top 2% nên được xem là nguồn tham khảo về mức độ ảnh hưởng học thuật, thay vì căn cứ duy nhất để đánh giá chất lượng nghiên cứu.