Số hóa học bạ, văn bằng hướng tới giảm thủ tục cho người học

Hàng triệu học bạ và văn bằng giáo dục đã được số hóa, kết nối với hệ thống định danh điện tử, mở ra khả năng sử dụng giấy tờ trực tuyến thay cho hồ sơ bản giấy trong nhiều thủ tục. Tuy nhiên, để dữ liệu thực sự phát huy giá trị, ngành giáo dục vẫn cần tiếp tục đối soát, xác thực và hoàn thiện thông tin được lưu trữ qua nhiều thời kỳ.

Hàng triệu dữ liệu giáo dục được kết nối

Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi đáng kể trong công tác quản lý giáo dục, từ lưu trữ hồ sơ, quản lý người học đến giải quyết thủ tục hành chính. Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào giấy tờ và báo cáo thủ công, các cơ sở giáo dục từng bước cập nhật, khai thác dữ liệu trên những hệ thống dùng chung.

Đến đầu tháng 11/2026, ngành giáo dục đã có 11,4 triệu học bạ số được đồng bộ lên VNeID. Công tác số hóa học bạ năm học 2025-2026 cơ bản hoàn thành; cơ sở dữ liệu học bạ số được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từ ngày 17/10/2026.

Một dấu mốc quan trọng là từ ngày 8/10/2026, học bạ số được tạo lập, ký số và phát hành theo quy định có giá trị pháp lý như học bạ giấy. Khi đáp ứng đầy đủ điều kiện, học bạ điện tử có thể được sử dụng thay thế bản giấy, cơ quan, tổ chức tiếp nhận không yêu cầu người học nộp thêm bản giấy tương ứng.

Đối với văn bằng, chứng chỉ, hệ thống của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiếp nhận, lưu trữ hơn 66,6 triệu hồ sơ. Trong đó, hơn 900.000 văn bằng được đồng bộ lên VNeID sau khi cơ sở dữ liệu văn bằng số kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từ ngày 22/10/2026.

Hạ tầng dữ liệu dùng chung hiện phục vụ hơn 30.000 trường học và 34 sở giáo dục và đào tạo. Riêng cơ sở dữ liệu giáo dục đại học được triển khai tại 470 cơ sở đào tạo. Việc thống nhất các hệ thống dữ liệu từ giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên đến đại học tạo nền tảng cho quản lý xuyên suốt và khai thác thông tin trên phạm vi toàn ngành.

tieuhoc-1793937878239282178406-1794047869.jpg
(Ảnh minh hoạ: Báo Chính phủ))

Làm sạch dữ liệu để giấy tờ điện tử có thể thay thế bản giấy

Khối lượng dữ liệu lớn, được hình thành qua nhiều giai đoạn với cách thức lưu trữ khác nhau, đang là một trong những trở ngại đối với quá trình số hóa. Nhiều hồ sơ văn bằng cũ chưa có mã căn cước công dân hoặc thông tin cá nhân chưa thống nhất, khiến việc đối chiếu với dữ liệu dân cư cần thêm thời gian xác minh.

Trong đợt phối hợp rà soát, hơn 40 triệu dữ liệu bằng cấp đã được chuyển để đối chiếu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Khoảng 64% số dữ liệu này khớp ngay với thông tin định danh; phần còn lại cần tiếp tục kiểm tra, bổ sung và xác thực.

Đối với dữ liệu người học, thông tin của khoảng 2,5 triệu sinh viên đang học tại Việt Nam cũng đã được hoàn thiện để phục vụ quá trình làm sạch và thống nhất mã định danh cá nhân. Đây là cơ sở quan trọng cho việc quản lý sinh viên và cấp văn bằng trong những năm tiếp theo.

Riêng bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, hơn 360.000 văn bằng đã được làm sạch và cập nhật để hiển thị trên VNeID. Việc tích hợp này giúp người dân có thêm phương thức sử dụng thông tin văn bằng điện tử khi thực hiện các thủ tục liên quan, giảm nhu cầu xuất trình hoặc nộp lại giấy tờ đã được xác thực.

Tuy nhiên, số hóa không chỉ dừng ở việc đưa hồ sơ lên hệ thống. Giá trị thực tế nằm ở khả năng khai thác dữ liệu đã xác thực để thay thế giấy tờ trong quá trình giải quyết thủ tục. Nếu thông tin đã có trên hệ thống nhưng người dân vẫn phải kê khai hoặc nộp lại bản giấy, mục tiêu đơn giản hóa hành chính sẽ chưa đạt được như kỳ vọng.

Hướng tới hồ sơ học tập xuyên suốt và kết nối dữ liệu việc làm

Một định hướng tiếp theo là hình thành hồ sơ học tập điện tử xuyên suốt từ mầm non đến trung học, giúp thông tin người học được kế thừa khi chuyển cấp hoặc chuyển trường. Khi dữ liệu được liên thông và xác thực, phụ huynh sẽ giảm việc phải kê khai lại những thông tin đã có, còn các cơ sở giáo dục có thêm căn cứ phục vụ quản lý, theo dõi quá trình học tập.

Việc mở rộng số hóa sang giáo dục nghề nghiệp cũng có ý nghĩa quan trọng. Khi dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ được kết nối với thông tin đào tạo, lao động và việc làm, cơ quan quản lý có thể từng bước hình thành bức tranh đầy đủ hơn về trình độ, kỹ năng và quá trình đào tạo của lực lượng lao động.

Đối với người học, dữ liệu văn bằng được xác thực không chỉ giúp giảm thủ tục hành chính mà còn tạo thuận lợi khi chứng minh trình độ chuyên môn, tham gia tuyển dụng hoặc tiếp tục học tập. Đối với doanh nghiệp, khả năng kiểm tra thông tin bằng cấp và chứng chỉ có thể hỗ trợ quá trình tuyển chọn, sử dụng nhân lực.

Để đạt được mục tiêu này, việc chuẩn hóa dữ liệu giữa các cơ sở đào tạo, thống nhất mã định danh và bảo đảm tính chính xác của hồ sơ là yêu cầu xuyên suốt. Cùng với đó, cần bảo đảm an toàn thông tin cá nhân và quy định rõ trách nhiệm cập nhật, khai thác dữ liệu của từng đơn vị.

Khi dữ liệu giáo dục được kết nối, xác thực và sử dụng thống nhất, chuyển đổi số sẽ không chỉ giúp ngành giáo dục đổi mới phương thức quản lý mà còn mang lại lợi ích trực tiếp cho người học, gia đình và thị trường lao động. Đây cũng là nền tảng để nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống giáo dục hiện đại.

Huyền Anh (TH)