Hai năm ngày Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần (19/7/2024 – 19/7/2026)

Sinh nhật trên những nẻo đường công tác

Hai năm đã trôi qua kể từ ngày cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kính mến đi xa. Mở lại những cuốn sổ ghi chép về các chuyến theo ông để tác nghiệp, tôi lại dừng rất lâu ở những trang ghi ngày 14 tháng 4 - ngày sinh của ông(14/4/1944). Suốt nhiều năm ấy, tôi chưa thấy lần nào tổ chức sinh nhật cho ông hay những lời chúc mừng như bao người khác trong chúng ta thường làm. Chỉ có những chuyến xe lặng lẽ, khẩn trương lăn bánh, đi về phía Nhân dân.

Những chuyến công tác mang tên ngày 14 tháng 4

Ngày 19/7 năm nay tròn hai năm cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ biệt chúng ta. Hai năm đủ cho nỗi đau lắng xuống, nhưng chưa đủ để vơi đi sự tiếc thương tột cùng trong tâm trí bao người. Với tôi, mỗi lần nhớ về ông đều bắt đầu từ những việc nhỏ nhất mà sâu lắng đến các sự kiện lớn. Không chỉ là những Hội nghị Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư bàn, thông qua nhiều vấn đề hệ trọng của Đảng và đất nước; hay các cuộc họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, quyết định các việc khó, phức tạp và vô cùng nhạy cảm.

Cũng không chỉ là những cuộc tiếp nguyên thủ quốc gia, các chuyến công tác nước ngoài mà tôi vinh dự có mặt. Điều hiện lên trong ký ức của tôi lúc này là hình ảnh một nhà lãnh đạo có uy tín cao, một con người thân thương, gần gũi, điềm đạm với nụ cười phúc hậu trong vòng vây tràn đầy yêu thương, kính trọng của đồng bào các dân tộc từ miền Bắc đến miền Trung, Tây nguyên và Tây Nam Bộ. Chắc chắn không chỉ với tôi, hình ảnh một nhà lãnh đạo để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong gần ba nhiệm kỳ làm Tổng Bí thư, hình ảnh một con người có nhân cách lớn mãi mãi in đậm trong ký ức người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.

tbt-nguyen-phu-trong-quangninh2014-1784397463.jpg
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm, động viên đơn vị thi công Cầu Sông Chanh thuộc dự án Cao tốc Hạ Long- Hải Phòng (Ảnh: Báo Quảng Ninh) ↵

Có một điều tưởng như ngẫu nhiên, trong những cuốn ghi chép của tôi nhiều trang đề ngày 14/4, đơn cử như năm 2016 là chuyến ông đi Quảng Ninh; năm sau đó đến với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; năm 2019 về với bà con nông dân tỉnh Kiên Giang, nay là An Giang.

Sau này, tôi mới hiểu, đó chính là do ông chủ động thu xếp, bởi ông muốn ngày sinh của mình không chỉ là một ngày làm việc bình thường như bao ngày khác, mà là một ngày có ý nghĩa thiết thực. Không tổ chức chúc mừng. Không tiếp khách. Không nhận hoa. Không để bất cứ ai có cơ hội biến sinh nhật của mình thành dịp biếu xén, quà cáp lấy lòng. Ngày đó ông muốn đến với dân nhiều hơn để thấu hiểu cuộc sống của đồng bào, nắm chắc hơn các loại hình tổ chức đảng ở từng vùng và việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng ở cơ sở.

vna-potal-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-nguyen-phu-trong-tham-lam-viec-voi-tinh-kien-giang-120226568-3818861-1784307294.jpeg
Cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm khu nuôi tôm công nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Công ty Cổ phần Trung sơn ở xã Trung Hóa, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (cũ) ngày 14/4/2019 ↵

Có một chuyến đi mà mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn không khỏi bâng khuâng, ngậm ngùi. Đó là lần về Kiên Giang, tháng 4 năm 2019, đúng sinh nhật lần thứ 75 của cố Tổng Bí thư. Hôm ấy ở Kiên Giang nắng gay gắt, có lúc nhiệt độ ngoài trời lên 38, 39 độ C. Như bất cứ chuyến công tác nào, ông dành nhiều thời gian khảo sát cơ sở. Dưới cái nắng như thiêu như đốt, ông vẫn quần xắn cao, đầu trần đi thăm một số khu nuôi tôm ở huyện Kiên Lương (cũ) nơi vùng sâu, vùng xa của tỉnh, hỏi chuyện bà con về khó khăn, thuận lợi khi nuôi tôm công nghệ cao. Có gì vướng mắc, ông trao đổi luôn với cán bộ các bộ, ngành và địa phương đi cùng để tìm cách tháo gỡ. Ngay sau đó ông lại vào nhà bảo quản tôm, nhiệt độ dưới 18 độ C. Với người bình thường cũng rất dễ bị sốc nhiệt.

Không ai nghĩ cái nắng quái ác của buổi chiều hôm ấy là nguyên nhân làm ông phải kết thúc sớm cuộc làm việc với cán bộ chủ chốt của tỉnh hôm sau. Thông thường các buổi làm việc có nghỉ giữa giờ, nhưng hôm đó khoảng 10 giờ, ông đứng lên đề nghị được làm việc luôn để đầu giờ chiều kịp về một xã của Vĩnh Long (cũ). Đến lúc phát biểu kết luận buổi làm việc, ông cũng nói ngắn hơn mọi khi. Như biết sự bất thường của sức khỏe, ông ngồi xuống trong thần sắc không tốt và được đưa ngay vào bệnh viện tỉnh cấp cứu, sau đó đưa về bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh rồi mới ra Hà Nội để điều trị dài ngày. Công việc cuốn hút làm cho ông không còn nghĩ đến sinh nhật, muốn trực tiếp nghe, tận mắt nhìn những điều đang diễn ra mà bất chấp nắng mưa, quên đi cả những mối hiểm nguy khôn lường.

co-tbt-nguyen-phu-trong-1784397904.jpg
Những ngày cuối đời tại Bệnh viện 108, cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn vừa điều trị bệnh, vừa nghiên cứu lý luận (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Sau này, giữa năm 2024, bị ốm nặng và ngay cả những ngày trên giường bệnh, người đứng đầu Đảng vẫn kiên trì tập luyện, dù không muốn ăn vẫn cố ăn hết tiêu chuẩn, mong sức khỏe sớm hồi phục. Đều đặn mỗi sáng, các anh trợ lý, thư ký vẫn vào báo cáo tình hình, sau đó truyền đạt ý kiến của ông đến các cơ quan và cán bộ có công việc liên quan. Ông làm việc như thế cho đến ngày cuối đời, rồi thanh thản ra đi để lại bao tiếc thương cho cán bộ, đảng viên và đồng bào cả nước cũng như bạn bè quốc tế.

Sự nêu gương trở thành lẽ sống

Nhớ cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhớ một nhà lãnh đạo có tâm, có tầm của Đảng, một con người có nhân cách lớn, cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, tròn đời lo cho dân, cho nước. Những năm ông đương nhiệm và cả sau khi qua đời, trên mạng xã hội, xuất hiện ngày càng nhiều những bài viết về ông của các tầng lớp nhân dân ở mọi miền Tổ quốc và người Việt Nam ở nước ngoài với sự tôn kính, tin tưởng tuyệt đối. Ông được tôn vinh là “Tổng tư lệnh của lòng dân”, bởi những việc làm của người đứng đầu Đảng ta đều xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. 

Nhân dân là trung tâm trong mọi suy nghĩ, việc làm của cố Tổng Bí thư. Lịch trình tất cả các chuyến công tác của ông vì thế đều về với dân trước, làm việc ở nơi khó khăn, vùng sâu, vùng xa trước rồi mới quay về gặp cán bộ chủ chốt của tỉnh. Những vấn đề Nhân dân đặt ra đều là nội dung chính trong các buổi làm việc.

Nghe báo cáo là một phần thôi, quan trọng là phải mắt thấy, tai nghe. Phải xem đồng ruộng, nhà xưởng, đường làng ngõ xóm, trường học, trạm y tế, nhà cửa,cách ăn ở và tinh thần của người dân như thế nào. Đó mới là thực tế, là điều chúng ta cần biết. Nhiều lần tôi nghe ông quán triệt như vậy với thành viên các đoàn công tác. Ông nói thế nào sẽ làm như thế.

Cũng đúng dịp sinh nhật của ông, tháng 4/2017, đến Gia Lai (cũ), nơi làm việc đầu tiên của đoàn là xã Ayun, huyện Chư Sê (cũ). Khi đó, Ayun là xã đặc biệt khó khăn, nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào Bana và Giarai. Ông hỏi bà con cụ thể từng vấn đề đặt ra và cùng cán bộ các bộ, ngành, địa phương tìm lời giải đáp, tại sao xã còn tới 88% số hộ nghèo và cận nghèo; làm thế nào để giúp bà con thoát nghèo? Từ khảo sát thực tế và sau khi thảo luận, ông yêu cầu phải sớm khắc phục bằng được tình trạng thiếu nước, vì đây là nguyên nhân dẫn đến sản xuất khó khăn;phải khẩn trương hoàn thành công trình thủy điện Plei Keo để có nước tưới cho 500 ha cấy lúa và cây trồng khác. Phải giúp bà con thay đổi cách nghĩ, cách làm, tiếp thu cái mới, không cam chịu đói nghèo. Các cấp các ngành phải chủ động giúp xã tổ chức lại sản xuất,vv.

Khó khăn, nghèo đói của Nhân dân luôn là điều làm ông trăn trở nhất. Tôi còn nhớ Tết độc lập năm 2011, lên xã Trung Lý (cũ) ở miền tây Thanh Hóa, nơi khi đó còn 72% số hộ nghèo, ông nghẹn ngào, tại sao đất nước độc lập bao nhiêu năm rồi mà Nhân dân vẫn còn đói khổ nhiều thế? Đó là lỗi của chúng ta. Không thể để tình trạng này kéo dài được. Câu nói nhói lòng ấy trở thành động lực cho chính quyền địa phương tích cực tìm cách giúp đồng bào vùng cao này từng bước thoát nghèo.

Với ông mỗi chuyến công tác đều mang lại một kết quả cụ thể, giúp Trung ương nắm chắc tình hình để hoạch địch chủ trương, chính sách phù hợp từng giai đoạn. Đi là phải có nội dung, thời gian làm việc rõ ràng, tuyệt đối không gây phiền hà cho địa phương. Có lần trên đường vào Nghệ An, Hà Tĩnh, hay lên Tây Nguyên, ông còn yêu cầu đoàn bố trí ăn cơm dọc đường và không cho cán bộ nơi đó ra đón tiếp, để đỡ mất thời gian của đoàn cũng như địa phương. Ông đi đến đâu cũng không khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng”, không tổ chức đón tiếp long trọng, hình thức. Chỉ có công việc và công việc. 
 

img-1719-1784307296.jpeg
img-1720-1784307296.jpeg
Cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào dân tộc thôn Kon Rơ Bàng 2, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (ngày 14/4/2017) ↵

Biết Quảng Ninh đang thực hiện Đề án 25, đổi mới mô hình tổ chức và tinh giản biên chế, thế là ông dành dịp sinh nhật lần thứ 72 của mình (2016) để về tỉnh tìm hiểu. Sau khi nghiên cứu thực tế tại Trung tâm hành chính công thành phố Uông Bí (cũ), khảo sát ở nhiều nơi, làm việc với cán bộ chủ chốt của tỉnh, ông đánh giá cao cố gắng của địa phương, nhưng lưu ý đây là việc mới, khó, phức tạp nên cần hết sức thận trọng. Vấn đề mấu chốt là con người và chất lượng đội ngũ cán bộ. 

Cùng với quá trình nghiên cứu ở nhiều nơi khác, năm 2017, ông đã ký, ban hành Nghị quyết số 18 Hội nghị Trung ương 6, khóa XII, về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tin gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả mà chúng ta đang thực hiện quyết liệt và rất hiệu quả.

Phong cách làm việc và lối sống của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khoa học mà dễ gần, không tạo uy quyền, nhưng được cán bộ, đảng viên không chỉ kính trọng, nể phục mà coi như một chuẩn mực, noi theo. Trong xử lý vụ việc, ông rất nghiêm khắc “trị bệnh cứu người”, nhưng phía sau đó ông là con người bao dung, yêu thương đồng chí, cấp dưới. Thường nhật, ông mặc những chiếc áo đến sờn cả gáy, đi dép đến vẹt cả đế, song trong công việc ông bố trí khoa học, bài bản. Con người ông là như thế, mọi việc làm, cử chỉ đều toát ra tự đáy lòng như một lẽ tự nhiên và đó không còn là sự nêu gương mà trở thành lẽ sống. 

Vì thế, những suy nghĩ, việc làm của ông mang tầm cao của trí tuệ và chiều sâu của tình cảm, không phải ai cũng hiểu hết. Vốn là con người của công việc, lại đã bước qua cái tuổi “xưa nay hiếm”, ông càng hiểu giá trị của từng phút, từng giờ. Mỗi lần bước sang tuổi mới là quỹ thời gian cho cuộc sống ngắn đi một chút. Dường như ý nghĩ ấy khiến ông làm việc nhiều hơn, xuống cơ sở nhiều hơn, thay vì tổ chức sinh nhật hình thức mà tốn kém; muốn nghe dân nói nhiều hơn thay lời chúc tụng không cần thiết.

Ra đi trong sự nuối tiếc của cả dân tộc, ông đã để lại cho chúng ta nhiều di sản quý. Không chỉ là nhà nghiên cứu có tư duy lý luận vượt trội, ông còn là cán bộ lãnh đạo có hành động quyết liệt trong thực tế. Tác phẩm nổi tiếng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” được dư luận trong nước và thế giới đánh giá là một công trình nghiên cứu công phu, sâu sắc, giàu tính thực tiễn.

Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy lý luận với trải nghiệm thực tế và một trái tim giàu nhiệt huyết cách mạng mà không phải nhà lãnh đạo nào cũng có. Được gọi là “người đốt lò vĩ đại” bởi chính ông là người khởi xướng, người nhóm lửa, giữ lửa và truyền lửa cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin yêu của Nhân dân.

Tròn hai năm về với tổ tiên, nhưng hình ảnh của ông vẫn nguyên vẹn, sáng mãi trong trái tim muôn người ./.

Bắc Văn