Những điều mới lạ ở vở kịch “Cuốn truyện bị đốt”

“Ngày rời Quảng Ninh, tôi đã để quên con tim mình ở lại…” 

Câu nói tưởng chừng chỉ phù hợp với một dòng trạng thái trên mạng xã hội, nhưng lại là cảm giác rất thật của tôi sau ngày công chiếu vở kịch Cuốn truyện bị đốt tại Quảng Ninh - quê hương của tác giả. Tuy nhiên, thay vì dừng lại ở một sự bộc lộ cảm xúc chóng vánh, những rung động mà vở diễn mang lại cần được ghi nhận một cách đầy đặn và nghiêm cẩn hơn, như một lời tri ân dành cho nhà biên kịch Tất Thọ và diễn viên sân khấu kịch Hồng Vân – những người đã thắp sáng con chữ trên sân khấu bằng lao động nghệ thuật bền bỉ và giàu trách nhiệm.

1-1767085884.jpg
Tác giả Tất Thọ và đạo diễn NSND Hồng Vân trên sân khấu khi vở vừa diễn xong.

Sinh ra từ trí tưởng tượng sáng tạo, Cuốn truyện bị đốt vẫn mang trong mình một sức nặng hiện thực rõ rệt. Tác phẩm lấy hình tượng người lính Trường Sơn làm trung tâm, từ đó mở ra bức tranh nhiều tầng về đời sống kháng chiến và hậu chiến. Những số phận hiện lên không mang vẻ bi hùng ồn ào, mà lặng lẽ, âm thầm, song đầy ám ảnh.

Thắm – nữ thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ – chấp nhận sống cô độc giữa núi rừng để bảo vệ kho lương, để rồi nỗi cô đơn kéo dài, gặm nhấm đời sống tinh thần, trở thành một căn bệnh lạ - một dạng thương tổn khó gọi tên. Hiệp – người lính thiện lương, quả cảm – sẵn sàng hi sinh bản thân để cứu đồng đội, nhưng chiến tranh không buông tha anh, để lại trong anh những mảnh ký ức rời rạc, đứt gãy nhiều bão giông.

2-1767085883.jpg
Cảnh trong vở diễn

Không dừng lại ở việc ca ngợi sự hi sinh, kịch bản của Cuốn truyện bị đốt đi xa hơn khi diễn tả trực diện những di chứng khốc liệt của chiến tranh trong đời sống hậu chiến. Phân đoạn Hiệp lưu lạc về bờ biển Phước Hải, chung sống cùng chú Năm và hai đứa trẻ mồ côi nhiễm chất độc da cam là Tí và Tèo cho thấy một khía cạnh không thể hàn gắn, không thể chữa lành.

Gia đình ấy được tạo lập chẳng phải bằng huyết thống mà bằng lòng thương và khát vọng làm người: Hiệp gọi chú Năm là cha, gọi Tí và Tèo là con. Và chính trong cái gia đình “lắp ghép” đó, chiến tranh liên tục hiện hình, nó trở về ở vô số chiều kích. Tiếng sấm xé toạc không gian, đèn vụt tắt, không gian trở nên hỗn tạp. Trong cơn hoảng loạn, Hiệp quằn quại ám ảnh giữa bom rơi đạn nổ – thứ ký ức không chịu ngủ yên vẫn liên tục sống dậy hoành hành dù chiến tranh đã lùi xa.

3-1767085883.jpg
Cảnh trong vở diễn

Giữa những cơn chấn động kinh hoàng của ẩn ức và bão giông đó, tiếng gọi “Ba ơi! Ba ơi!” ngây dại của Tí và Tèo khiến tất cả như một bản hòa tấu dữ dội của quá khứ, hiện tại. Tiếng gào khóc của hai đứa trẻ ấy không chỉ là phản ứng bản năng của trẻ thơ, mà là tiếng kêu thảm thiết của những nạn nhân vô tội bị chiến tranh tước đoạt cả ánh sáng hiện thực (vì bị mù) lẫn sự tươi sáng ở tương lai.

Cảnh tượng ấy khiến tôi bàng hoàng nhận ra rằng chiến tranh không kết thúc khi tiếng súng ngừng nổ, mà còn kéo dài dai dẳng trong thân thể, ẩn ức và số phận con người suốt những năm tháng sau đó. Câu nói hồn nhiên mà nhức nhối khiến người xem không thể thào qua: “Biển của Tí thì màu xanh, còn biển của Tèo thì đen thùi lùi luôn”. Với tôi, nó như một nhát dao vô hình lặng lẽ mà sắc lẹm tấn công vào phần trắc ẩn sâu kín nhất gây sự nên sự đồng cảm đau đớn tận cùng. Rất nhiều chi tiết, câu thoại kiểu như vậy đã phơi bày trọn vẹn bi kịch của những đứa trẻ sinh ra sau chiến tranh nhưng phải mang trên mình những mất mát không gì bù đắp nổi.

4-1767085884.jpg
Cảnh trong vở diễn

Bên cạnh những chấn thương do bom đạn để lại, Cuốn truyện bị đốt còn đặt ra một vấn đề gai góc khác, đó là sự biến dạng nhân cách con người trong đời sống hậu chiến. Cuộc kháng chiến vĩ đại kết thúc, có người vẫn giữ được phần trong sạch của mình, nhưng cũng có kẻ phản bội lại những giá trị từng nâng đỡ họ. Nếu Hiệp mang trong mình di chứng nặng nề, vẫn giữ trọn sự tử tế và thiện lương, thì Vũ Lâm – người bạn từng kề vai sát cánh – lại trượt dài trong danh lợi.

Hành vi chiếm đoạt tập bản thảo ký sự Trường Sơn của Hiệp để in thành tác phẩm lấy tên mình bằng mọi giá tạo ra nhiều tầng lớp ý nghĩa. Một số đoạn, diễn viên khắc họa sự giả trá, lươn lẹo này khiến khán giả bật cười khinh bỉ. Sau tiếng cười là nỗi chua cay, và chứa đựng nhiều điều đáng suy ngẫm. Khi chiến tranh qua đi, có những người lành lặn về thể xác nhưng lại khuyết tật về nhân cách. Cuộc chiến kết thúc, song cuộc thử thách đạo đức của con người thì chưa bao giờ dừng lại.

5-1767085884.jpg
Cảnh trong vở diễn

Người xem còn nhận ra một thực tế ở không ít người Việt, rằng cứ khi khó khăn, gian khổ như trong chiến tranh, bão lũ thì ai cũng tốt, người với người sống với nhau hết sức thâm tình, gắn bó; nhưng khi hòa bình, no đủ, giàu có thì người ta lại rất dễ “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, gây nên nhiều trận chiến vô hình khác. Giúp khán giả nhận diện được điều này đã là một thành công lớn của vở diễn và tác giả.

Thật thiếu sót nếu không bóc thêm tầng ý nghĩa nữa mà người xem có thể nhận ra. Ấy là đến cuốn truyện - thứ đại diện cho sự thật, cho văn hóa, cho nhân cách, cho quá khứ - còn bị đốt một cách trắng trợn, tàn bạo, đầy tính áp chế thì còn điều gì người ta không dám vùi dập nữa? Song, không phải bản thảo bị đốt mà sự thật, nhân cách, văn hóa, quá khứ - những thứ tốt đẹp – bị tiêu hủy theo, bị bốc cháy theo. Bản thảo cuốn truyện chỉ là phần xác. Còn phần hồn cao đẹp của biết bao giá trị khác ở đời, ở người dù có đốt đến thế nào nó vẫn tồn tại, vẫn hiện diện trong mỗi người tử tế và tỏa sáng theo cách riêng, bất khả xâm phạm. Có lẽ giá trị tư tưởng này khiến kịch bản có sức nặng, vở kịch thành công và lay động mạnh mẽ người xem.

6-1767085883.jpg
Tác giả Tất Thọ rưng rưng cảm xúc trong buổi diễn kịch

Ở phương diện sân khấu, vở diễn cho thấy sự hòa quyện hiệu quả giữa kịch bản, diễn xuất, ánh sáng và âm thanh. Khoảnh khắc Hiệp nhìn con mình trước lúc nhận lại cha là Vũ Lâm khiến nhiều người lặng đi, hẳn không chỉ vì câu chuyện, mà bởi chiều sâu cảm xúc mà diễn viên truyền tải. Nhìn vào ánh mắt diễn viên, ai nấy đều có thể cảm nhận được họ đang đau chung nỗi đau của nhân vật. Tôi không chỉ khóc vì thương cho nhân vật, tôi còn khóc vì bị cảm hóa trước sự hóa thân tài tình của những nghệ sĩ trẻ thế hệ gen Z.

Không dừng lại ở đó, vở kịch Cuốn truyện bị đốt còn gợi một liên tưởng đầy ý nghĩa đến chính hành trình sáng tác của tác giả Tất Thọ – người cán bộ văn công phục vụ Trường Sơn năm xưa giờ đã bước vào tuổi ngoài 80, một chứng nhân lịch sử đã cần mẫn ghi lại chiến tranh bằng con chữ. Khác với số phận bi kịch của nhân vật Hiệp, “cuốn truyện” của ông không bị đốt, không bị cướp đoạt, mà cuối đời nó đã được công bố, được dàn dựng và tỏa sáng trên sân khấu một cách rực rỡ.

7-1767085884.jpg
Khán giả đồng thời là tác giả đang xem kịch và rơi nước mắt xúc động khi xem vở diễn...

Đó chính là buổi lễ ra mắt bộ sách “Người hùng không cầm súng” với bốn tập sách dày dặn, bìa cứng đẹp đẽ gồm nhiều thể loại khác nhau: Kịch dài, kịch ngắn, kịch bản chèo, nhật ký, tiểu luận phê bình. Trong đó, “Cuốn truyện bị đốt” là một kịch bản của tập 1 “Tuyển tập kịch bản sân khấu”. Vở diễn được dàn dựng đúng thời điểm bộ sách ra đời và được công diễn tại Cung văn hóa lao động Việt – Nhật Quảng Ninh với sự hiện diện của đông đảo khán giả yêu kịch nói, yêu văn chương.

Một sự kiện chưa từng xảy ra tại nơi đây, chưa từng có ở bất kỳ tác giả nào (vừa công bố bộ sách, vừa công bố vở kịch). Sự kiện đặc biệt ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng các tầng lớp khán giả. Thật là một cái kết có hậu cho văn chương và cũng là niềm an ủi lớn lao cho những người tin vào giá trị của văn học nghệ thuật chân chính trong thời đại AI nhiều biến động này.

Vở kịch khép lại, nhưng dư âm thì còn ở lại. Cuốn truyện bị đốt không chỉ là một tác phẩm sân khấu giàu giá trị nhân văn, mà còn là lời nhắc nhở thấm thía về chiến tranh, ký ức và trách nhiệm gìn giữ nhân cách của con người trong hòa bình./.

Trịnh Như Ngọc