Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách đặc biệt về công tác nhân tài để trình Quốc hội. Các đề xuất hướng đến tháo gỡ những rào cản trong tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ người có năng lực nổi trội, đồng thời mở rộng khả năng thu hút chuyên gia trong nước và nước ngoài tham gia các nhiệm vụ chiến lược.
Một trong những nội dung đáng chú ý là xây dựng cơ chế ưu đãi tài chính gắn với nhiệm vụ được giao. Theo dự thảo, nhân tài và cộng sự có thể được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền thưởng trong thời hạn 5 năm. Doanh nghiệp sử dụng nhân tài, cộng sự thực hiện nhiệm vụ chiến lược được đề xuất tính thêm khoản tương đương 50% chi phí tiền lương, tiền thưởng thực trả vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Chính sách ưu đãi thuế cũng được đề xuất áp dụng đối với nhân tài làm việc tại doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ không sử dụng ngân sách nhà nước. Việc triển khai cần gắn với cơ chế xác nhận nhiệm vụ, kiểm tra chi phí thực tế và kiểm soát việc hưởng trùng ưu đãi.

Đề xuất dành nguồn lực riêng cho phát triển nhân tài
Để bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách, dự thảo đề xuất bố trí ngân sách cho công tác nhân tài ở mức khoảng 0,1% GDP mỗi năm, nằm trong tổng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo phương án được đưa ra, Quốc hội quyết định mức ngân sách, còn Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ phân bổ theo thẩm quyền. Các địa phương tự chủ ngân sách có thể quyết định mức chi cao hơn tùy theo nhu cầu và khả năng cân đối tài chính.
Nguồn kinh phí được định hướng phân bổ theo nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể, đi kèm yêu cầu công khai, kiểm tra, giám sát và tránh tính trùng khoản chi. Cách tiếp cận này nhằm tạo cơ sở tài chính cho việc huy động người có năng lực thực hiện các chương trình, nhiệm vụ quan trọng.
Mở rộng cách tuyển chọn, không phụ thuộc bằng cấp và danh hiệu
Khác với cách tiếp cận thường gắn việc thu hút chuyên gia với bằng cấp, học hàm, chức danh hoặc thâm niên, dự thảo đề xuất xây dựng khung tiêu chí quốc gia theo hướng mở. Việc xác định nhân tài có thể căn cứ vào thành tựu thực tế, năng lực giải quyết vấn đề, khả năng dẫn dắt nhiệm vụ và tiềm năng được chứng minh thông qua đánh giá năng lực, sản phẩm hoặc giải pháp.
Theo định hướng này, người được lựa chọn không bắt buộc phải có học hàm, học vị, chức danh, thâm niên hay danh hiệu nhân tài, trừ trường hợp pháp luật quy định điều kiện hành nghề bắt buộc. Tiêu chí cụ thể sẽ được quy định theo ngành, lĩnh vực và địa phương, phù hợp với yêu cầu thực tế.
Dự thảo cũng đề xuất đa dạng hóa phương thức lựa chọn, bao gồm tuyển chọn cạnh tranh, mời trực tiếp hoặc đặt hàng, giao nhiệm vụ. Việc thực hiện có thể thông qua quyết định hoặc hợp đồng, trong đó xác định rõ sản phẩm cần đạt, thời hạn, quyền tự chủ, chế độ đãi ngộ và trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ.
Đáng chú ý, dự thảo đề xuất không áp dụng pháp luật về đấu thầu và đầu tư đối với việc lựa chọn, giao nhiệm vụ cho nhân tài trong phạm vi cơ chế được quy định. Đây là hướng xử lý nhằm rút ngắn quy trình huy động chuyên gia cho những nhiệm vụ cấp thiết.

Cho phép chuyên gia làm việc linh hoạt tại nhiều đơn vị
Dự thảo Nghị quyết mở rộng quyền chủ động của nhân tài trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Theo đó, người được lựa chọn có thể đồng thời làm việc tại nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; thỏa thuận chế độ làm việc phù hợp và chủ động lựa chọn phương pháp chuyên môn, cộng sự hoặc tổ chức nhóm thực hiện công việc.
Trong phạm vi nguồn lực được giao, nhân tài có thể ký hợp đồng, quyết định tiền lương, tiền thưởng của nhóm cộng sự, điều chỉnh kinh phí giữa các nội dung chi và tiếp cận hạ tầng, thông tin, dữ liệu phục vụ nhiệm vụ. Quyền bảo lưu ý kiến chuyên môn cũng được đề cập nhằm tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và giải quyết vấn đề.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức được lựa chọn làm nhân tài, dự thảo cho phép tạm thời thôi thực hiện nhiệm vụ công vụ hoặc nhiệm vụ viên chức trong thời gian tham gia nhiệm vụ chiến lược. Khoảng thời gian này vẫn được tính là thời gian công tác liên tục để hưởng chế độ, chính sách theo đề xuất.
Cơ chế trên hướng đến tăng khả năng luân chuyển tri thức giữa khu vực công, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để chuyên gia tập trung vào những nhiệm vụ cần chuyên môn sâu.
Đề xuất thị thực riêng cho nhân tài và gia đình
Để tăng sức hấp dẫn đối với chuyên gia nước ngoài, dự thảo đưa ra phương án cấp “Thị thực Nhân tài Việt Nam” và thẻ tạm trú tương ứng. Vợ, chồng và con dưới 18 tuổi của người được hưởng chính sách có thể được cấp thị thực UĐ2 theo đề xuất.
Dự thảo đồng thời đề xuất miễn giấy phép lao động trong phạm vi nhiệm vụ phù hợp, cho phép nhân tài làm việc tại nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp mà không phải xin giấy phép riêng cho từng nơi. Việc thay đổi nơi làm việc cũng không làm phát sinh yêu cầu cấp lại thị thực còn hiệu lực.
Các cơ chế này được định hướng kết nối chính sách nhập cảnh, cư trú và làm việc với tiêu chí xác định nhân tài, qua đó tạo điều kiện để chuyên gia tham gia các chương trình tại Việt Nam. Quá trình thực hiện vẫn phải bảo đảm yêu cầu về thẩm tra, an ninh, trật tự và quản lý cư trú.
Dự thảo được xây dựng trên cơ sở Kết luận số 105-KL/TW, đồng thời rà soát các quy định liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; công nghiệp công nghệ số; ngân sách, thuế, lao động và các lĩnh vực pháp luật liên quan.
Các nội dung nêu trên hiện là đề xuất trong dự thảo Nghị quyết đang được Bộ Nội vụ lấy ý kiến, chưa phải chính sách đã có hiệu lực. Nếu được thông qua, những cơ chế mới sẽ tạo khuôn khổ pháp lý cho việc lựa chọn, sử dụng và đãi ngộ nhân tài theo hướng linh hoạt hơn, gắn quyền lợi với năng lực thực tế và kết quả thực hiện nhiệm vụ.