Giữ hồn chè cổ thụ giữa non cao Tủa Chùa

Trong vườn chè của gia đình ở thôn Hấu Chua, xã Sín Chải (huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên), ông Hạng A Chư chỉ tay lên những chồi non vừa nhú trên thân chè xù xì, mốc bạc theo năm tháng, chậm rãi nói: “Chè vụ xuân búp khỏe, đậm vị. Nhưng chưa tới vụ hái, thương lái đã vào tận vườn ra giá, mặc cả rồi đẩy giá theo ngày…”.

Bởi thế, cứ mỗi mùa chè xuân về, những người cả đời gắn bó với cây chè như ông Hạng A Chư lại mang trong lòng một nỗi niềm sâu thẳm, lặng lẽ như chính những thân chè cổ thụ bám chặt vào đá núi nơi này.

Nhấp chén trà ấm tỏa hương ngào ngạt, ông Chư thoáng trầm tư khi nhớ lại câu chuyện xưa của gia đình mình – một trong những hộ sở hữu nhiều cây chè Shan tuyết cổ thụ nhất ở vùng “thủ phủ chè” Tủa Chùa.

Ở độ cao hơn 1.500 m so với mực nước biển, cách trung tâm tỉnh Điện Biên gần 200 km, Sín Chải được nhiều người biết đến là xã có số lượng chè cây cao cổ thụ lớn nhất tỉnh. Theo các nhà khoa học, chè cây cao Tủa Chùa thuộc dòng chè Shan tuyết, cùng nhóm với chè Shan tuyết cổ thụ Cao Bồ (Tuyên Quang) và Suối Giàng (Yên Bái). Tuy nhiên, với người Điện Biên nói chung, người Tủa Chùa nói riêng, cái tên “chè cây cao Tủa Chùa” vẫn thân thuộc và gần gũi hơn cả.

Tại các thôn Hấu Chua, Háng Sùa, Páo Tỉnh Làng 1, Páo Tỉnh Làng 2…, chè cây cao mọc thành rừng, như những bờ lũy xanh che chở nương lúa, nương ngô, chắn gió, đỡ mưa cho từng mái nhà của đồng bào H’Mông mỗi mùa giông bão. Bởi vậy, với người H’Mông sinh ra và lớn lên nơi đây, cây chè không chỉ là cây trồng mà còn là một phần máu thịt của đời sống.

1-1768641604.jpg
Đồng bào dân tộc H'Mông ở xã Sín Chải thu hái búp chè trên cây chè Shan tuyết cổ thụ

Với thế hệ ông Hạng A Chư, cùng các ông Mùa A Chinh, Mùa A Thắng…, cây chè còn là tài sản quý giá được ông cha gìn giữ, truyền lại qua nhiều thế hệ. Riêng thôn Hấu Chua hiện có 39 hộ được thừa hưởng vườn chè từ cha ông, với tổng số hàng nghìn cây chè có tuổi đời lên tới vài trăm năm. Bấm đốt ngón tay, ông Chư nhẩm tính: “Tôi là thế hệ thứ ba được thừa hưởng vườn chè từ ông nội để lại cho bố, rồi bố để lại cho anh em tôi. Nay đến các con tôi là thế hệ thứ tư”.

Gia đình ông nâng niu cây chè không chỉ vì giá trị kinh tế, mà hơn cả là câu chuyện đời chè gắn liền với chuyện đời người. Mỗi lần nhìn những mảng vỏ xù xì, mốc bạc trên thân chè cổ thụ, ký ức về những năm tháng gian khó của cha ông lại ùa về.

Ông Chư kể, ngày xưa giông bão quét qua Hấu Chua làm cây cối gãy đổ, nhà cửa tan hoang, cả bản chỉ còn lại vài nóc nhà đứng vững nhờ những cây chè cao chắn gió. Sau bão, người H’Mông lại cần mẫn vun gốc, dựng cành, chăm chè như chăm người bị thương. Cứ thế, cây chè lặng lẽ sống bên con người, trầm mặc, bền bỉ qua bao mùa mưa nắng.

Nguyên cán bộ Trạm Giống nông nghiệp Tủa Chùa, ông Nguyễn Trọng Nghiêu – người gắn bó với cây chè Tủa Chùa từ năm 1980 – vẫn nhớ rõ từng giai đoạn thăng trầm của loài cây này. Ông cho biết, năm 1980 tỉnh có chủ trương mở rộng diện tích chè, ông được phân công về Tủa Chùa chọn giống. Nhưng chỉ vài năm sau, do hiệu quả kinh tế thấp, ông lại được giao nhiệm vụ… phá chè để chuyển sang cây trồng khác.

2-1768641604.jpg
Hạng A Su (con trai út của ông Hạng A Chư) cần mẫn làm từng mẻ chè tại xưởng Hấu Chua

Đến năm 2007, tỉnh Điện Biên ban hành Quyết định số 1055/QĐ-UBND phê duyệt Dự án Quy hoạch phát triển vùng chè tại bốn xã Sín Chải, Tả Sìn Thàng, Tả Phìn và Sính Phình (huyện Tủa Chùa), với tổng nguồn vốn đầu tư hơn 84 tỷ đồng. Dự án không chỉ hướng tới hiệu quả kinh tế mà còn đặt mục tiêu nâng cao nhận thức, thay đổi tập quán sản xuất của đồng bào H’Mông vùng cao.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc trồng, chế biến chè ở Tủa Chùa gặp không ít khó khăn do giao thông cách trở, cơ sở chế biến hạn chế. Chè búp tươi nhiều khi hái về không có nơi tiêu thụ, khiến người trồng chè nản lòng. Cây chè Tủa Chùa vì thế chưa thể giúp người dân thoát nghèo như chè Suối Giàng hay Tà Xùa.

Những năm gần đây, chè cây cao Tủa Chùa được quan tâm đầu tư chế biến, quảng bá sản phẩm, chất lượng dần được khẳng định. Thương lái tìm đến nhiều hơn, đặc biệt là vụ chè xuân – thời điểm “nóng” nhất trong năm. Cao điểm vụ xuân 2024, giá chè búp tươi có lúc lên tới 200.000 đồng/kg, khiến người dân đổ xô hái chè cả ngày lẫn đêm, thậm chí hái kiệt búp, chặt cành để lấy chè.

Chứng kiến cảnh ấy, những người gắn bó lâu năm với cây chè như ông Hạng A Chư, ông Nguyễn Trọng Nghiêu không khỏi xót xa. “Cây chè cho búp bốn mùa, không phải chỉ một vụ. Hái kiệt vì giá cao là đang tự làm hại cây, làm hại chính sinh kế lâu dài của mình”, ông Nghiêu trăn trở.

Bởi vậy, trước mỗi mùa chè xuân, ông Chư luôn dặn các con: “Giá cao mấy cũng không bán vội. Phải giữ chè, chế biến tại xưởng của thôn để mỗi mẻ chè còn nguyên hương đất, tình người Hấu Chua”. Với ông, người làm chè không chỉ bán sản phẩm mà còn giữ “đạo” với cây chè – không vì lợi trước mắt mà vắt kiệt sức sống của loài cây đã bám đất, bám đá cùng con người suốt bao đời.

“Hái kiệt chè xuân rồi bỏ mặc chè thu, thương cây chè lắm. Long đong nhiều rồi, tôi không muốn chè Tủa Chùa còn long đong mãi”, ông Chư nói rồi vội quay đi, như muốn giấu nỗi buồn sâu lắng với loài cây trầm mặc nơi non cao.

Giữa núi đá, sương mù và gió lạnh Tủa Chùa, cây chè cổ thụ vẫn lặng lẽ vươn lên, bền bỉ sống cùng con người. Và trong sự bám bện ấy, không chỉ có sinh kế, mà còn là ký ức, là hồn cốt của một vùng đất.

Lê Lan