Ông Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, sau gần 40 năm đổi mới, khu vực FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp khoảng 20% GDP, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm trực tiếp cho hàng triệu lao động.

Nhiều tập đoàn công nghệ và công nghiệp lớn trên thế giới đã lựa chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất chiến lược, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; đồng thời, việc tăng cường liên kết FDI và doanh nghiệp nội sẽ giúp gia tăng hiệu ứng lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế.
Theo đánh giá của ông Hoàng Văn Cường, mức độ liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế. Điều này dẫn đến tỷ lệ nội địa hóa tại nhiều ngành còn thấp và số doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu chưa nhiều. Hoạt động chuyển giao công nghệ và hiệu ứng lan tỏa sang khu vực kinh tế trong nước chưa đạt như kỳ vọng.
Đồng quan điểm về mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách chiến lược Trung ương cho rằng, liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu, khiến năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế và ảnh hưởng đến hiệu quả thu hút FDI và khả năng lan tỏa, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Vì vậy, tăng cường liên kết FDI và doanh nghiệp nội cần được xem là giải pháp trọng tâm trong giai đoạn phát triển mới.
Số liệu từ Bộ Tài chính, hiện các nhà nhà đầu tư đã đầu tư vào 19/22 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân của Việt Nam. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với gần 334,8 tỷ USD, chiếm 61,6% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 80,6 tỷ USD, chiếm 14,9% tổng vốn đầu tư; sản xuất, phân phối điện với trên 44,9 tỷ USD, chiếm 8,3% tổng vốn đầu tư.
Ông Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, thế giới đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc với nhiều biến động địa chính trị, cạnh tranh công nghệ và yêu cầu phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, các tập đoàn đa quốc gia không chỉ tìm kiếm địa điểm sản xuất mới mà còn ưu tiên các hệ sinh thái có khả năng thích ứng, minh bạch và bền vững.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh Việt Nam đang ưu tiên các dự án FDI công nghệ cao; các ngành công nghiệp nền tảng cũng như các lĩnh vực năng lượng tái tạo, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn cùng với việc sàng lọc, hạn chế các dự án tiêu tốn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường hoặc có giá trị gia tăng thấp, cần thiết xây dựng các gói chính sách ưu đãi, đặc thù, vượt trội, quy trình riêng. Việc tăng cường liên kết FDI và doanh nghiệp trong nước cũng sẽ là điều kiện quan trọng để Việt Nam nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Trong bối cảnh đó, để thu hút được dòng vốn FDI chất lượng cao, ông Hồ Sỹ Hùng cho rằng, Việt Nam không thể chỉ dựa vào thế chi phí thấp mà cần nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi, cần chú trọng đến xây dựng mối liên kết giữa doanh nghiệp ngoại và doanh nghiệp trong nước và một trong những giải pháp cần được triển khai đó là phát triển doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, công nghệ và quản trị của đối tác nước ngoài.

Để doanh nghiệp trong nước chuyển từ tư duy “tham gia” sang “nâng cao vị thế” trong chuỗi giá trị, doanh nghiệp Việt Nam cần từng bước làm chủ công nghệ, tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế, nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, qua đó tăng cường liên kết FDI và doanh nghiệp nội theo hướng thực chất, bền vững hơn.
Ông Nguyễn Đức Hiển cũng cho rằng, để thu hút FDI thế hệ mới, Việt Nam cần “gắn kết hữu cơ doanh nghiệp FDI với hệ sinh thái kinh tế nội địa”. Muốn làm được điều đó, cần tập trung phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, đồng thời thiết kế các cơ chế phù hợp để thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng với doanh nghiệp FDI. Mục tiêu là hình thành các chuỗi giá trị mà trong đó doanh nghiệp Việt Nam tham gia ngày càng sâu và thực chất hơn.
Cùng với đó, cần tiếp tục cải cách thể chế một cách thực chất, tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có tính cạnh tranh cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - yếu tố quan trọng trong hợp tác thu hút FDI thế hệ mới. Đây cũng là nền tảng để tăng cường liên kết FDI và doanh nghiệp nội trong dài hạn.

Việt Nam sẽ chuyển đổi từ lợi thế “lao động chi phí thấp” sang “nguồn nhân lực chất lượng cao”. Đặc biệt, giai đoạn 2026 - 2030, cần tập trung triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính kết nối cao như hoàn thành tuyến cao tốc Bắc - Nam, xây dựng các tuyến đường sắt tốc độ cao và đường sắt liên vận quốc tế, đưa vào khai thác sân bay quốc tế Long Thành, đồng thời nâng cấp hệ thống cảng biển và logistics hiện đại.
Song song là phát triển mạnh hạ tầng năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo và hạ tầng LNG, bảo đảm cung ứng điện ổn định cho sản xuất quy mô lớn. Hạ tầng số cũng sẽ được ưu tiên phát triển với việc phổ cập 5G, phát triển trung tâm dữ liệu và nền tảng số, tạo nền tảng cho kinh tế số và thu hút FDI công nghệ cao; đồng thời, hỗ trợ tăng cường liên kết FDI và doanh nghiệp nội trong chuỗi cung ứng mới.
Ông Phạm Đoàn Tùng, Chủ tịch Hiệp hội Hỗ trợ Phát triển Công nghiệp Hải Phòng (IDA) đưa ra giải pháp: KCN phải cung cấp “gói vận hành” hoàn chỉnh, điện xanh, xử lý môi trường chuẩn, logistics, hạ tầng số, dịch vụ kỹ thuật; Đào tạo theo đơn đặt hàng, liên kết trường - doanh nghiệp - hiệp hội, chuẩn hóa kỹ năng là điều kiện bắt buộc; Chuyển từ thu hút dự án sang giữ chân và kéo chuỗi, với mục tiêu không phải một dự án đơn lẻ, mà một cụm chuỗi cung ứng. Muốn vậy phải nâng chuẩn doanh nghiệp nội địa và kết nối cung cầu bài bản; Nâng tốc độ và tính dự đoán của thủ tục. Không chỉ nhanh, mà phải ổn định, nhất quán. Nhà đầu tư cần biết chính sách không thay đổi đột ngột và vướng mắc được xử lý theo chuyên đề, theo ngành.
Ông Bạch Ngọc Tùng, Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Xây dựng ACUD Việt Nam cho rằng, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, một kỷ nguyên phát triển kinh tế không thể tách rời khỏi trách nhiệm với môi trường và xã hội. Sự thay đổi trong tiêu chí đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) hàng đầu thế giới hiện nay không chỉ quan tâm đến hiệu quả tài chính mà còn chịu áp lực to lớn từ cổ đông và người tiêu dùng về các cam kết ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị). Họ yêu cầu các địa điểm sản xuất phải có khả năng cung cấp năng lượng tái tạo, hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn tuần hoàn và minh bạch trong quản trị.