Nghị quyết do Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành, thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển khi đặt văn hóa và con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Theo đó, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết cho quá trình phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Việc xác lập Ngày Văn hóa Việt Nam được kỳ vọng sẽ tạo thêm không gian và điều kiện để người dân tiếp cận, tham gia và thụ hưởng các giá trị văn hóa, đồng thời khích lệ đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, lực lượng sáng tạo phát huy vai trò trong đời sống xã hội. Qua đó, từng bước hình thành và lan tỏa lối sống văn hóa, văn minh, góp phần gia tăng sức mạnh mềm và bản sắc của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Ở tầm trung hạn, đến năm 2030, Bộ Chính trị đặt mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn với việc hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, đồng bộ từ gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội đến không gian số. Cùng với đó là yêu cầu phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa, coi đây là lĩnh vực kinh tế có giá trị gia tăng cao.
Một nội dung đáng chú ý khác là định hướng đưa văn hóa trở thành ngành kinh tế có đóng góp thực chất. Nghị quyết đặt mục tiêu phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa, hình thành hệ sinh thái sáng tạo, khởi nghiệp trong lĩnh vực này và từng bước xây dựng những doanh nghiệp, tập đoàn văn hóa có khả năng cạnh tranh quốc tế. Phấn đấu để công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP, đồng thời tạo dựng 5–10 thương hiệu quốc gia trong các lĩnh vực giàu tiềm năng như điện ảnh, biểu diễn nghệ thuật, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang.
Song song với phát triển công nghiệp văn hóa, Bộ Chính trị yêu cầu hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa quốc gia, bảo đảm 100% chính quyền địa phương hai cấp và lực lượng vũ trang có thiết chế đáp ứng nhu cầu sáng tạo, sinh hoạt văn hóa của người dân và cán bộ, chiến sĩ. Phấn đấu để 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả trong thực tiễn.
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản cũng được đặt ra với những chỉ tiêu cụ thể. Đến năm 2026, toàn bộ di sản văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt phải hoàn thành số hóa. Đồng thời, 100% học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận và tham gia thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản.
Để bảo đảm tính khả thi, Nghị quyết yêu cầu dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho lĩnh vực văn hóa, đồng thời điều chỉnh tăng phù hợp với yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn.

Về tầm nhìn dài hạn, đến năm 2045, Bộ Chính trị đặt mục tiêu khẳng định vị thế văn hóa của Việt Nam là quốc gia phát triển, có thu nhập cao, trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa nghệ thuật lớn trong khu vực và trên thế giới.
Việt Nam phấn đấu trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa sáng tạo năng động, có ít nhất 10 thương hiệu lễ hội, liên hoan nghệ thuật tầm vóc quốc tế, thêm khoảng 8–10 lọt vào danh sách di sản được UNESCO. Đồng thời, sẽ có kế hoạch phấn đấu để đưa nước ta nằm trong Top 3 ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa.