Người con An Hiệp giữ đạo giữa đời

Chân dung Đại đức Thích Huệ Hạnh – người trưởng thành từ nếp nhà hiền lương của gia tộc Phạm Trần Lưu ở Ba Tri, mang theo cốt cách quê hương Đồng Khởi vào hành trình tu học, học để phụng sự và lặng lẽ bồi đắp đời sống đạo lý ở cơ sở.

Sinh ra trên quê hương An Hiệp, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre – vùng đất Đồng Khởi giàu truyền thống yêu nước và nghĩa tình – Đại đức Thích Huệ Hạnh mang theo vào đời tu không chỉ đức tin, mà còn cả nếp sống của một gia đình hiền lương, kính Phật, yêu quê hương. Ở thầy, người ta thấy sự hòa quyện giữa một người con của xứ Dừa, một người tu hành chân thành, một người học trò không ngừng cầu thị và một công dân lặng lẽ góp sức cho cộng đồng.

“Tôi sinh ra trong một gia đình hiền lương, giàu lòng yêu quê hương và kính tin Phật. Quê hương tôi là An Hiệp, Ba Tri, Bến Tre.”

0-1776474498.jpg
Một dáng điềm đạm, chừng mực và gần gũi – nét dễ nhận thấy ở Đại đức Thích Huệ Hạnh
1-1776474498.jpg
Gia đình là nơi hun đúc những hạt giống đầu tiên về lòng yêu quê hương, đức tin và nếp sống nghĩa tình

Từ nếp nhà hiền lương của gia tộc Phạm Trần Lưu

An Hiệp không chỉ là một địa danh trên giấy tờ hộ tịch. Trong ký ức của nhiều người con Ba Tri, đó là miền đất thấm đẫm tinh thần nghĩa khí, nơi người dân lớn lên cùng câu chuyện về quê hương, về tình làng xóm, về sự thủy chung với nguồn cội. Từ An Hiệp nhìn rộng ra là cả không gian văn hóa của Ba Tri – vùng đất gợi nhớ đến Nguyễn Đình Chiểu, đến những lớp người trọng nghĩa, trọng chữ tín và sống có trước có sau.

Trong mạch nguồn ấy, nếp nhà hiền lương của gia tộc Phạm Trần Lưu đã hun đúc cho Đại đức Thích Huệ Hạnh những hạt giống đầu tiên về nhân cách. Đó là cách kính trên nhường dưới, biết thương người yếu thế, biết giữ lời ăn tiếng nói, biết sống chừng mực và coi trọng đạo lý hơn sự phô trương. Cái nền ấy thường không đến từ những lời dạy ồn ào, mà đến từ cách cha mẹ sống, cách người lớn ứng xử, cách một gia đình giữ gia phong qua năm tháng.

Nhắc tới quê hương An Hiệp, người ta còn gợi nhớ Gò Trụi gắn với tên tuổi Đốc binh Phan Ngọc Tòng – một lớp trầm tích lịch sử góp phần làm nên khí chất Ba Tri. Những năm tháng học ở Trường THPT Phan Thanh Giản cũng tiếp tục bồi đắp ở thầy tình yêu chữ nghĩa và ý thức về trách nhiệm của người con đối với quê hương. Bởi thế, càng đi xa trên đường tu học, thầy càng không đánh rơi gốc rễ của mình.

Vào đạo bằng chí nguyện, giữ mình bằng kỷ luật

Chọn đời sống xuất gia là chấp nhận đi vào một con đường nghiêm khắc. Với người ngoài, sự hy sinh dễ thấy nhất là buông bớt những ràng buộc của đời sống thường nhật. Nhưng với người tu, thử thách lớn hơn nhiều nằm ở việc tự gọt giũa phần bản ngã bên trong: Bớt hơn thua, bớt nóng nảy, bớt ham muốn được nhìn nhận, được tán thưởng. Đó là công việc không ồn ào nhưng nặng nhọc, đòi hỏi kỷ luật nội tâm bền bỉ.

Ở Đại đức Thích Huệ Hạnh, điều dễ nhận ra là sự điềm đạm. Không phải thứ điềm đạm của hình thức, mà là sự lắng chín trong cách nói, cách nghe và cách phản ứng trước công việc. Người tu chân chính thường không cần nói nhiều về chữ “tu”; chính nếp sống của họ nói thay. Cầu thị, biết sửa mình, biết nhẫn để giữ hòa khí, biết dừng đúng lúc để tránh tổn thương người khác – đó mới là chiều sâu của đời sống thiền môn.

Điều đáng quý là thầy không tách đạo khỏi đời. Với thầy, sống theo lẽ đạo không phải chuyện nói những điều quá cao xa, mà bắt đầu từ việc cư xử tử tế, giữ sự chân thành, làm điều gì cũng rõ ràng, nghiêm túc và có trách nhiệm. Ở đời sống cơ sở, một người tu hiện diện như thế tự nhiên trở thành điểm tựa tinh thần cho nhiều người.

Học để hiểu đời, học để phụng sự

Điểm nổi bật ở Đại đức Thích Huệ Hạnh là tinh thần học tập bền bỉ. Thầy không xem tri thức như đồ trang sức cho danh vị, mà như một phương tiện để hiểu sâu hơn về con người, xã hội, niềm tin và trách nhiệm. Việc hoàn thành bậc học cao hơn trong lĩnh vực triết học không chỉ cho thấy ý chí cầu thị, mà còn cho thấy một thái độ nghiêm túc: người làm công việc tinh thần càng phải học, càng phải tự soi, càng phải sống có chiều sâu hơn.

Ở thầy, việc học không đi tách rời khỏi đời sống tu hành. Học để lời giảng bớt sáo. Học để có thể đối thoại với người trẻ, với quần chúng, với cán bộ cơ sở và với những vấn đề mới của đời sống bằng ngôn ngữ rõ ràng, có căn cứ và có sức thuyết phục. Học để hiểu rằng triết học, nếu chỉ dừng ở văn bản, rất dễ trở thành lý thuyết; nhưng nếu đi vào tu thân và phụng sự, nó lại trở thành nguồn lực hữu ích cho người làm việc đạo.

Người thực sự cầu thị thường không dùng kiến thức để hơn thua. Họ xem kiến thức là trách nhiệm. Càng học, càng phải khiêm nhường hơn. Càng hiểu nhiều, càng phải cẩn trọng trong lời nói và hành động. Chính tinh thần ấy làm nên hình ảnh một Đại đức Thích Huệ Hạnh vừa nghiêm cẩn trong giới hạnh, vừa không ngừng mở rộng chân trời tri thức.

2-1776474498.jpg
3-1776474498.jpg
Học tập, đọc sách và tự bồi dưỡng tri thức là một phần quan trọng trong hành trình tu học của Đại đức Thích Huệ Hạnh

Những ghi nhận từ cộng đồng

• Ngày 12.12.2022: được Chủ tịch UBND xã Thanh Tâm tặng Giấy khen vì đã chung tay giúp đỡ người nghèo tại địa phương.
• Ngày 05.02.2024: được Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre tặng Bằng khen vì tích cực ủng hộ vật chất xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách tại xã An Hiệp, huyện Ba Tri.

Một người tu không đứng ngoài việc đời

Giá trị xã hội của một vị chân tu không nằm ở khoảng cách với quần chúng, mà ở khả năng có mặt đúng lúc cộng đồng cần. Những ghi nhận dành cho Đại đức Thích Huệ Hạnh không đi ra từ lời kể chung chung, mà gắn với việc làm cụ thể: Sẻ chia với người nghèo ở nơi thầy gắn bó tu hành, góp sức xây nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách trên chính quê hương An Hiệp. Đó là những việc nhỏ nếu nhìn riêng lẻ, nhưng đặt trong mạch đời sống cơ sở lại có ý nghĩa rất rõ ràng.

Ở đời sống thường ngày, nhiều người tìm đến cửa chùa không chỉ để cầu an, mà còn để tìm một lời nhắc nhở về cách sống. Một lời khuyên biết điều, một sự ôn hòa đúng lúc, một cách ứng xử thấu tình đạt lý đôi khi có giá trị hơn nhiều so với những lời tuyên truyền khô cứng. Bởi thế, khi một người tu có uy tín sống chuẩn mực, gần dân và giữ mối quan hệ đúng mực với chính quyền, bản thân điều đó đã góp phần nuôi dưỡng đời sống tôn giáo lành mạnh hơn và bồi đắp sự đồng thuận xã hội từ gốc rễ.

Nói cách khác, Đại đức Thích Huệ Hạnh không thay ai làm công việc quản lý nhà nước, nhưng sự hiện diện của thầy có ý nghĩa như một điểm tựa mềm cho cộng đồng. Khi con người sống có đạo lý hơn, biết tôn trọng pháp luật hơn, biết nhường nhịn và nghĩ đến lợi ích chung hơn, thì đời sống cơ sở cũng yên ổn hơn. Ổn định xã hội, suy cho cùng, phải bắt đầu từ ổn định lòng người.

4-1776474498.jpg
Không gian thiền môn và cây thị cổ là nơi gắn với đời sống tu học, chiêm nghiệm và phụng sự cộng đồng

Giữ đạo giữa đời, giữ tình với quê hương

Hình ảnh đáng nhớ nhất khi viết về Đại đức Thích Huệ Hạnh không phải là một danh xưng hay một lời ca ngợi. Đó là hình ảnh một người con của An Hiệp, Ba Tri, Bến Tre – lớn lên trong nếp nhà hiền lương, bước vào cửa thiền bằng chí nguyện, rồi đi tiếp bằng sự học và bằng những việc làm cụ thể. Càng đi xa, thầy càng muốn trở về báo đáp quê hương bằng những việc thiết thực, lặng lẽ và bền bỉ.

Sự báo đáp ấy không chỉ là trở về bằng bước chân địa lý. Đó còn là trở về bằng thái độ sống: Nhớ nguồn cội, giữ tình với xóm làng, nâng niu giá trị của gia đình, sống có trách nhiệm với cộng đồng và biết coi trọng lợi ích chung. Một người còn giữ được tinh thần cầu thị thì chưa dừng lại. Một người còn đau đáu với quê hương thì chưa quay lưng với dân. Và một người vừa giữ được đạo hạnh, vừa giữ được tấm lòng với cuộc đời, thì dù ở chốn thiền môn vẫn đang góp phần làm cho đời sống hôm nay bớt khô cứng, bớt cực đoan và ấm hơn bởi nghĩa tình.

Giữa một thời đại nhiều tiếng ồn, điều làm nên giá trị của Đại đức Thích Huệ Hạnh không nằm ở lời nói lớn, mà ở cách sống bền bỉ và ngay ngắn: Giữ đạo mà không rời đời, học để phụng sự chứ không để phô trương, đi xa mà không quên quê hương, sống trong cửa thiền mà vẫn nặng lòng với con người và cộng đồng. Một người như thế, nhắc tới không phải để ca ngợi cho nhiều, mà để thấy rằng trong xã hội hôm nay, những giá trị lặng thầm vẫn luôn cần được trân trọng lâu dài.

Trịnh Ngân